CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRUNG VÀ DÀI HẠN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Dự án đầu tư trung dài hạn Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hợp các tài liệu trình bày các hoạt động và chi phí một cách chi tiết và có hệ thống theo một kế hoạch mong muốn nhằm đạt được kết quả và mục tiêu hoặc một tập hợp các mục tiêu trong tương lai. Về bản chất, dự án đầu tư là một tập hợp các hành động được kết nối với nhau để lập kế hoạch để đạt được các mục tiêu nhất định bằng cách mang lại các kết quả cụ thể trong một khung thời gian nhất định cụ thể, sử dụng các nguồn lực cụ thể. Dự án đầu tư là một kỹ thuật quản lý nhằm quản lý việc sử dụng tiền mặt, nguyên vật liệu và lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế và xã hội dài hạn. Dự án đầu tư có thể coi là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các biện pháp quản lý, cấp phép đầu tư.
Về nội dung, dự án là tập hợp các hành động được kết nối với nhau được thiết kế để đạt được các mục tiêu nhất định bằng cách mang lại kết quả xác định trong một khung thời gian xác định. Sử dụng các định nghĩa nguồn. Dự án đầu tư, từ quan điểm quản lý, là một kỹ thuật quản lý công việc sử dụng vốn, nguồn lực và con người để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế và xã hội lâu dài. Dự án là một tập hợp các hoạt động được thiết kế để đáp ứng các mục tiêu cụ thể trong một thời gian và ngân sách nhất định.2 Thẩm định dự án đầu tư trung dài hạn Thẩm định dự án đầu tư là quá trình kiểm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án đầu tư mà khách hàng lập, nhằm đánh giá lại tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án, trên cơ sở đó ngân hàng ra quyết định cho vay hay không.
Nói một cách khác, công tác thẩm định dự án một mặt cung cấp thông tin cho lãnh đạo ngân hàng có thể quyết định cho vay 4 hay từ chối cho vay. Mặt khác, nó giúp ngân hàng phân tích và quản lý được rủi ro tín dụng sau khi cho vay. Cũng như bất cứ các tổ chức kinh doanh khác thì một mục tiêu quan trọng của ngân hàng thương mại là lợi nhuận, mà ta lại biết nguồn thu lợi chủ yếu của ngân hàng là từ hoạt động cho vay trung và dài hạn trong đó hoạt động cho vay từ các dự án đầu tư chiếm vai trò lớn, hết sức quan trọng. Chính vì vậy mỗi một dự án đầu tư được phê duyệt cấp vốn đòi hỏi nhất thiết phải mang lại hiệu quả kinh tế, nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được an toàn và phát triển.
Mà để đảm bảo được dự án đầu tư đó khi được cấp vốn có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thì bắt buộc ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư trước khi quyết định có cho vay hay không. Như vậy có thể nói thẩm định dự án đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ ngân hàng đưa ra quyết định chính xác có cho vay tài trợ dự án hay không. Đối với ngân hàng thương mại, việc thẩm định dự án đầu tư trong đó chủ yếu là thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ giúp cho ngân hàng có thể đưa ra các kết luận về tính khả thi, hiệu quả về mặt tài chính dự án, về khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho quyết định cho vay hay từ chối cho vay đầu tư dự án. Qua việc thẩm định dự án đầu tư, ngân hàng thương mại sẽ lựa chọn và tìm ra được những dự án đầu tư có hiệu quả để cho vay, đảm bảo được mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro.
Cụ thể hơn, đối với những khoản vay mà chủ đầu tư có hồ sơ pháp lý đầy đủ, tình hình tài chính tốt, có phương án trình bày dự án đầu tư một cách chi tiết cụ thể, chỉ ra được những lợi ích kinh tế mang lại, cùng với việc ngân hàng khi tiến hành thẩm định dự án thì thấy dự án có chi tiêu hiệu quả về mặt kinh tế như: lợi nhuận đem lại cao, thời gian hoàn vốn nhanh, khả năng sinh lời tốt, khả năng thanh toán nợ của chủ đầu tư được đảm bảo. thì dự án đầu tư đó chắc chắn sẽ được các ngân hàng thương mại chú trọng và xem xét cho vay.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư trung dài hạn 1.1 Thẩm định khách hàng vay vốn 1.1 Tư cách và năng lực pháp lý/ pháp nhân, năng lực điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng - Đánh giá về lịch sử hoạt động của khách hàng: đánh giá chung về khả năng hiện tại cũng như tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai để biết liệu công ty có thể đứng vững trước nhưng biến đổi của thị trường cũng như khả năng mở rộng hoạt động trong thời gian tới. - Đánh giá tư cách và năng lực pháp lý của khách hàng - Đánh giá mô hình tổ chức, bố trí lao động của doanh nghiệp - Đánh giá về năng lực quản trị điều hành của Ban lãnh đạo: trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, uy tín của người ra quyết định.2 Thẩm định tình hình tài chính của khách hàng Bất cứ một dự án khả thi nào cũng được lập trên cơ sở nền tảng về khả năng tài chính của chính chủ đầu tư đó. Vì thế mà công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp của chủ đầu tư là hết sức quan trọng.
Trong công tác này, người phân tích chủ yếu sử dụng các chỉ số tài chính để phân tích. Các chỉ số thường được sử dụng bao gồm trong 4 nhóm cơ bản sau: - Các chỉ số về khả năng thanh khoản - Các chỉ số về khả năng hoạt động - Các chỉ số về khả năng cân đối vốn - Các chỉ số về khả năng sinh lãi Ngoài ra, CBTĐ cần đánh giá một số khía cạnh khác, như: - Kiểm tra sự phù hợp về ngành nghề ghi trong đăng kí kinh doanh với ngành nghề KD hiện tại, phù hợp với dự án, phương án dự kiến vay vốn 6 - Các sản phẩm, dịch vụ chủ yếu của doanh nghiệp - Vị thế, danh tiếng và uy tín của khách hàng trên thị trường - Các đối thủ cạnh tranh của khách hàng 1.2 Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án đầu tư Thẩm định về khía cạnh tài chính của dự án đầu tư nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội. Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án bao gồm một số các mảng dưới đây.1 Thẩm định tổng mức vốn đầu tư của dự án Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động. Nó là cơ sở để lập kế hoạch huy động và quản lý nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án.
Dưới giác độ của một dự án, vốn đầu tư cho một dự án bao gồm 3 phần là vốn đầu tư vào TSCĐ, vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu và vốn đầu tư dự phòng. - Vốn đầu tư vào TSCĐ bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến việc hình thành tài sản cố định từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc xây dựng dự án, cụ thể như: chi phí chuẩn bị (chi phí trước vận hàng), chi phí mua máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải, chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng cũng như các kết cấu hạ tầng, chi phí chuyển giao công nghệ (trong trường hợp trả gọn 01 lần), chi phí đào tạo cán bộ và các chi phí khác như: chi phí phát sinh khi thực hiện dự án không liên quan trực tiếp đến việc tạo ra hay vận hành các tài sản cố định. - Vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo cho việc dự trữ các tài sản lưu động nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của dự án, bao gồm: vốn sản xuất và vốn lưu thông - Vốn đầu tư dự phòng: 7 Trong nền kinh tế thị trường, nhân tố giá cả nguyên vật liệu xây dựng, giá thuê nhân công lao động. thường xuyên có sự biến động.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện dự án có thể gặp phải những rủi ro về kỹ thuật hoặc nảy sinh các chi phí bất thường. Chính vì vậy, cần phải dự trù một khoản dự phòng vốn đầu tư để sẵn sàng ứng phó với những bất trắc có thể xảy ra. Nhờ có nguồn vốn này mà khi có sự cố xảy ra thì chủ đầu tư có thể dễ dàng ứng phó một cách chủ động và linh hoạt. Tránh dẫn tới tổn thất không đáng có cho dự án.
Tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tính khả thi của dự án vì nếu vốn đầu tư dự trù quá thấp thì dự án có thể sẽ bị ngừng trệ, không thực hiện được đúng tiến độ được thậm chí không đưa vào thực hiện được, ngược lại tính toán quá cao thì tiền vay nợ nhiều, lãi phải trả lớn, giảm khả năng sinh lời cho dự án. Do đó, CBTĐ cần phải xem xét đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được dự tính hợp lý với thực tế hay chưa. Các cán bộ thẩm định sau khi so sánh nếu thấy có sự khác biệt lớn ở bất cứ một nội dung nào thì phải tập trung phân tích kỹ lưỡng, tìm hiểu sâu nguyên nhân và đưa ra nhận xét. Sau đó đưa ra một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý mà vẫn đảm bảo mục tiêu dự kiến ban đầu của dự án đầu tư, làm cơ sở để xác định mức tài trợ của ngân hàng.