CHƯƠNG 1 KHU CÔNG NGHIỆP - VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI sự PHÁT TRIEN k h u c ô n g n g h i ệ p NƯỚC TA HIỆN NAY. VAI TRỐ KHU CỐNG NGHIẺP CỦA ĐỐI VỚI QUẢ TRÌNHCÔNG NGHIẺP HÓA - HIỂN ĐAI HOẢ Ở NƯỚC TA : 1. K hái niêm về khu kinh tẽ công nghiệp .1 Lích sử hình thành và phát triển khu kinh tẽ công nghiệp môt sô nước : Vào những năm cuối thập kỷ 60 và thập kỷ 70, sự ra đời và thành công của hàng trăm khu kinh tế tự do trên thế giói đã có tác động mạnh đến sự hoạch định chiến lược kinh tế của các nước đang phát triển ở Đông Á và Đông Bắc Á. Sụ hình thành và phát triển dưới các tên gọi là khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế tự do hay đặc khu kinh tế.đều có quan điểm là nhằm cải cách bên trong, mở cửa bên ngoài, được xem là những phương châm cơ bản, lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia này.
Ớ Singapore: Singapore thực hiện công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX. Xuất phát điểm của chiến lược này là do đặc điểm của Singapore có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng nước sâu vào loại lớn nhất thế giới. Vị trí này làm cho Singapore trơ thành khu trung chuyển lớn cho Malaixia và Indonexia (70% xuất khâu của Malaixia qua Singapore). Song điểm yếu của Singapore là thiếu nguôn tài nguyên trong nước, thiếu tầng lóp doanh nghiệp trong nước và thị trương trong 14 nước quá nhỏ (chỉ có 3 triệu dân).
Điểm quan trọng trong chiến lược phát triển của Singapore là biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh. Trong giai đoạn đầu chỉ phát triển mạnh khu vực dịch vụ (dịch vụ cảng biển), sân bay, đóng tàu, thương mại, du lịch.) khi đã có tích lũy trong nước khá lên thì từ những năm 70 đến nay, Chính phủ Singapore nhận thấy rằng không chỉ phát triển dựa vào lợi thế trực tiếp mà cần hoạch định một chiến lược dưa trên phát triển cân đối giữa ngành dịch vụ và các ngành khác như phát triển công nghiệp trong mối quan hệ họp tác giữa các nước trong khu vực. Nhờ vào tích lũy trong nước giai đoạn trước và xuất phát từ đặc điểm bối cảnh trong và ngoài nước lúc bấy giờ, Chính phủ tập trưng vào đào tạo tay nghề cao, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động, công nghiệp sạch, có công nghệ hiện đại trong đó đặc biệt là công nghiệp điện tử, tin học, hình thành các khu công nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sự hình thành các khu công nghiệp đã nhanh chóng thu hút đầu tư nước ngoài rất cao.
Trong giai đoạn này nhà nước có vai trò rất to lớn trong việc thực hiện các mục tiêu, chiến lược đã đề ra vào trực tiếp một bộ phận lớn các ngành quan trọng.Từ nữa cuối những năm 80, có biểu hiện trì trệ nhà nước tổ chức mạnh cổ phần hoá. Mặt khác tiếp tục phát huy vai trò các khu công nghiệp và dựa vào các tập đoàn xuyên quốc gia để phát triển khoa học công nghệ bằng các biện pháp: khuyến khích về thuế các sản phẩm, công nghệ mới, đưa ra các giải thưởng lớn cho phát minh và các hoạt động nghiên cứu và triển khai. Chính từ các giải pháp đó nên nền kinh tế Singapore bị ảnh hưởng không lớn đối với khủng hoảng vừa qua. Ở Đài Loan Sự phát triển của nền kinh tế Đài Loan đã đạt được những thành tựu to lớn.
Tốc độ tăng trưởng trung bình suốt thời kỳ từ năm 1953 đến 1995 là 6,4%/năm với GDP trên đầu người đã tăng từ 200 USD năm 1952 đến 12.439 USD năm 1995 và khoảng 14. 15 Quá trình phát triển kinh tế của Đài Loan gắn liền với việc hoạch định đúng đắn chiến lược của công cuộc công nghiệp hoá với các giai đoạn khác nhau: Trong những năm 1950 (giai đoạn từ 1950 đến 1960). Đài Loan áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu bằng việc phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Trong khi công nghiệp chế biến thực phẩm đạt trình độ xuất khẩu thì các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đựơc khuyên khích sản xuất hàng cho thị trường nội địa từ nguồn nguyên liệu trong nước.
Đài Loan tiếp tục áp dụng kết hợp chiến lược thay thế nhập khẩu đồng thời mở rộng xuất khẩu với việc phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, tận dụng lợi thế giá nhân công rẽ, phát triển các khu chế xuất vối tốc độ cao vì vậy đã đưa tốc độ xuất khẩu đạt trung bình lên 27,4% năm so với 16,4% tăng trưởng của công nghiệp và 10,2% của toàn nền kinh tế. Nhờ đó đã có đủ dự trữ ngoại tệ để có thể thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp nặng với hàm lượng công nghệ và vốn đầu tư cao. Từ đầu những năm 1980 (giai đoạn 1980-1990). Đài Loan bắt đầu chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao và công nghiệp tiết kiệm năng lượng.
Đặc biệt việc phát triển các khu công nghiệp, trong đó có khu công nghiệp - khoa học Hsinchu đã khuyến khích nghiên cứu và phát triển (R&D), do đó đã nâng cao chất lựơng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp trên thị trường quốc tế. Đến năm 1990, tỷ lệ sản phẩm công nghệ cao chiếm tói 40,2%tổng giá trị xuất khẩu, bao gốm các sản phẩm điện tử, tin học và các thiết bị v.đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đài Loan đạt mục tiêu nước phát triển vào năm 2000. 16 Ở Hàn Quốc : Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hoá từ năm 1960, trải qua hơn 30 năm đã trở thành nước công nghiệp.
Chính phủ Hàn Quốc luôn luôn coi trọng việc xây dựng chiến lược, coi đó là đường hướng cơ bản cho việc dẫn dắt đất nước tiến lên. Đến nay Hàn Quốc đã trải qua ba giai đoạn chiến lược 10 năm và đang bắt đầu giai đoạn chiến lược mới, trong đó gắn với việc phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp. Nhiệm vụ cơ bản trong giai đoạn này là công nghiệp hoá theo hướng xuất khẩu, mở rộng và xây dựng cơ sở hạ tầng cụ thể ở hai kế hoạch 5 năm: + Từ 1962-1967: Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời chuẩn bị các cơ sở cho quá trình đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển mạnh công nghiệp nhẹ vì vậy đã hình thành nhiều khu chế xuất và các chính sách tài trợ và giúp đỡ tài chính của nhà nước. + Từ 1967 đến 1971: Mục tiêu chủ yếu là thực hiện hiện đại hoá cơ cấu công nghiêp hướng ngoai.
Chiến lươc trong giai đoạn này la chuyên tư chinh sách thay thế nhâp khẩu của kế hoach năm năm đâu sang đây mạnh xuat khau trên cơ sở phát triển hiệu quả của các khu chế xuất và khu công nghệ sử dụng nhiều lao dộng. Các ngành công nghiệp nhẹ như vải, cao su, gô dán.được phát triển thành những ngành xuất khẩu chủ yếu. Nhờ đó Hàn Quốc đạt tôc độ tăng GNP bình quân năm từ 1971-1976 là 9,7%. Tốc độ tăng của công nghiệp chế tác là 19,8%, tốc độ tăng xuất khẩu đạt 40% năm.
Chính phủ có nhiều chính sách hỗ trợ cho xuất khẩu, giảm thuế, liên kết giữa xuất khẩu và nhập khẩu quản lý chặt hàng nhập khẩu cho tiêu dùng. Trọng tâm giải pháp chiên lược là huy động vốn, trong đó tập trung vốn trong nước 50%, số vốn còn lại vay nước ngoài và môt phần lai dưa vào khuyến khích đâu tư trực tiep bang hình thành nhanh chóng các khu công nghiệp. Sau 2 kế hoạch năm năm nền kinh tế trong nước của Hàn Quốc đã tích lũy được nguồn vốn nhất định, nhờ chiến lược hướng ngoại - được Mỹ có nhiều ưu đãi đến nay có nhiều trở ngại do vay nợ nhiều, xuất khẩu phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu nên thiếu chủ động, Mỹ không còn nhiều ưu đãi.Chính phủ quyết định cải tổ cơ cấu công nghiệp, hoàn chỉnh và nâng cao vai trò của các khu chế xuất, khu công nghiệp, tập trung phát triển công nghiệp nặng và hoá chất nhằm cung cấp nguyên liệu, vật liệu và thiết bị cho các ngành công nghiêp mới. Tiếp tuc thưc hiện chiên lược tạo cơ cau kinh te tự lực cải thiện công nghệ và tăng cường hiệu quả.
Chính phủ có các biện pháp hỗ trọ mạnh mẽ các ngành sản xuất máy móc, thiết bị điện tử, đóng tàu, luyện kim màu coi đây là ngành công nghiệp mới có công nghệ sử dụng nhiều lao động. - Chiến lược 10 năm (giai đoạn 1982-1991) Do giai đoạn 1972-1981 công nghiệp nặng và công nghiệp sử dụng nhiều lao động của Hàn Quốc không thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chính phủ Hàn Quốc quyết định điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên cơ sở hình thành các khu công nghệ kỹ thuật cao và phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao, nội dung điều chỉnh cơ cấu trên 4 khía cạnh: • Điều chỉnh và cải tổ cơ cấu công nghiệp theo các ngành có hàm lượng kỷ thuật cao. • Tự do hoá và mở cửa nền kinh tế.
• Từng bước tư nhân hoá nền công nghiệp và mở rộng cơ chế thị trường. • Thúc đẩy cạnh tranh trong nước và quốc tế. Từng bước đi của chiến lược này, các kế hoạch năm năm đạt mục tiêu tốt. Năm 1996 Hàn Quốc ' gia nhAp ° khối cár niĩpc pỊiáU ãển (OECD).
T HỌC VlệN NOÃN HANG , VIẸN NCKH N G ÀN HÀNG QTrung Quốc ĩ T H Ư V IÊ N ĩ;„T V. ỉt/ii/ 18 Chiến lược công nghiệp hoá mới của Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978 nhằm thực hiện 2 sự chuyển đổi có tính chất lịch sử : Một là chuyển từ một xã hội nông nghiệp nông thôn sang một xã hội công nghiệp và đô thị. Hai là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Tháng 4 năm 1979 trong một cuộc họp, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã quyết định thử nghiệm thành lập các đặc khu kinh tế (ĐKKT).
Tháng 7 năm 1979 Chính phủ Trung Quốc cắt đất ở một số vùng thuộc Thâm Quyên, Chu Hải, Sán Dầu (tỉnh Quảng Đông) và Hạ Môn ( tỉnh Phúc Kiến) để thành lập các khu vực đặc biệt nhằm tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN), tăng cường xuất khẩu với tên gọi là “ Đặc khu xuất khẩu”. Ban đầu các khu vực này được thiết kế theo kiểu các khu chế xuất. Tuy nhiên loại hình đặc khu xuất khẩu bị hạn chê ở chức năng chê biến hàng xuất khẩu.