phần mở đầu và kết luận, luận án gồm ba chương: C h ư ơ n g 1: N h ữ n g v ấ n đề c ơ b ả n về n u ô i trồ n g thuỷ s ả n và h iệ u quả tín d ụ n g n g â n h à n g đ ố i v ớ i n g h ề n u ô i trồ n g thuỷ sản. C h ư ơ n g 2 : T h ự c trạ n g h iệ u quả tín d ụ n g n g â n h à n g đ ô i v ớ i n g h ề n u ô i trồ n g thuỷ s ả n v ù n g duyên h ả i M iề n T ru n g. C h ư ơ n g 3 : G iả i p h á p n â n g cao h iệ u quả tín d ụ n g n g â n h à n g đ ố i vớ i n g h ề n u ô i trồ n g thuỷ sả n v ù n g duyên h ả i M iề n T ru n g. 5 Chửụng 1 NHỮNG VẤN ĐỂ Cơ BẢN VỂ NUÔI TRỔNG THUỶ SẢN VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Đ ố i VỚI NGHỂ NUÔI TRỔNG THUỶ SẢN 1.
TỔNG QUAN VỂ NGHỀ NUÔI TRổNG THUỶ SẢN 1. Khái niệm chung về nuôi trồng thuỷ sản Chúng ta biết rằng, nghề nuôi trồng thuỷ sản đã có từ lâu đời và phổ biến trên thế giới. Hiện nay khi nguồn lợi thuỷ sản trong các vùng ven biển, biển khơi, sông ngòi, ao hồ, đầm phá. đã và đang ngày một suy giảm do việc khai thác quá mức của con người, phát triển nuôi trồng thuỷ sản đã và đang là xu thế tất yếu của các quốc gia nhằm tăng nhanh nguồn thuỷ sản, tạo sự phát triển thuỷ sản của đất nước theo hướng bền vững, giải quyết công ăn việc làm cho nông ngư dân, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh dân số ngày một tăng nhanh, đất đai thì có hạn, giải quyết các vấn đề về môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu, an ninh quốc phòng.
Mặt khác do thói quen và nhu cầu tiêu thụ mặt hàng thuỷ hải sản ngày một tăng nhanh trên thị trường kể cả trong nước và thế giới, buộc các nước phải tăng nhanh cả sản lượng nuôi trồng và cả sản lượng đánh bắt. Ví dụ: Trung Quốc, Thái lan, Ấn Độ, Ecuado, Indonesia, Đài Loan.là những nước có tiềm năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản, có giá trị xuất khẩu lớn là những nước có sản lượng nuôi trồng thuỷ sản lớn. Hiện nay Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản, với hơn 33,30% tổng sản lượng của thế giới.[481 Trên thế giới có nhiều quốc gia có tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đó là các quốc gia ven biển, có nhiều hồ lớn, có nhiều sông ngòi, đầm phá, đất đai mặt nước mặn, ngọt, lợ. và có thời tiết phù hợp cho các giống loài thuỷ sản phát triển.
6 * T iề m n ă n g : Đó là khả năng, năng lực tiềm tàng ở trạng thái ẩn giấu bên trong dưới dạng chưa bộc lộ ra, chưa trở thành hiện thực.[45, tr 9481 Theo tôi, tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản: Đó là đất đai, mặt nước sông hồ, biển, đầm phá, các điều kiện về tự nhiên, xã hội, công nghệ, nguồn vốn và nhân lực. có khả năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản thuận lợi nhưng chưa được khai thác hoặc khai thác không đạt được hiệu quả cao. * N u ô i trồ n g th u ỷ sả n : Đó là các hoạt động liên quan đến việc thuần hoá, nhân giống và nuôi dưỡng các giống loài động, thực vật sống trong môi trường nước nhằm phục vụ lợi ích của con người. Nói cách khác: Nuôi trồng thuỷ sản là một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật thuộc ngành thuỷ sản mà hoạt động của nó nhằm mục đích tăng cường và cải thiện chất lượng nguồn lợi thuỷ sản.
Đối tượng chính của nuôi trồng thuỷ sản là các loài cá nước ngọt, cá nước lợ, một số loài cá biển (cá chim, cá hang, cá ngừ đại dương.), các loài nhuyễn thể (nghêu, sò, ốc, trai), các động vật giáp xác (tôm, cua, tôm hùm.), các loài bò sát như cá sấu, một số loại rong sụn biển có giá trị kinh tế cao như rông biển, rau câu. Một sô điều kiện cần thiết cho phát triển nghề nuôi trồng thủy sản 1. Đ iề u k iệ n tự n h iê n ch o p h á t triể n ngh ê n u ô i trồ n g th ủ y sản Trên thế giới có xu thế tăng dần sản lượng và giá trị thuỷ sản nuôi trồng, giảm dần sản lượng thuỷ sản đánh bắt từ tự nhiên. Đây là xu thế có tính tất yếu, bởi vì, hệ sinh thái và công nghệ cho người nuôi trồng thuỷ sản thuận lợi hơn người đánh bắt thuỷ sản.
Người nuôi trồng có thể lựa chọn công nghệ, vùng nuôi, giống loài và cân đối chi phí để thu lợi nhuận cao theo tín hiệu thị trường. Trong khi người đánh bắt khó có thể quyết định được loại thuỷ sản cần đánh bắt, sản lượng, thời gian.mà phụ thuộc vào tự nhiên. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng có điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Đa số các quốc gia ven biển, có sông ngòi lớn, có khí hậu thích hợp với 7 Sự phát triển của các giống loài thuỷ sản thì mới có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Các quốc gia có những điều kiện sau thì mới có điều kiện cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản: * V ề n g u ồ n lợ i m ặt nư ớc - Bao gồm các quốc gia ven biển, có hải đảo, có sông hồ lớn, có chủ quyền biển đảo. - Có hệ đầm phá đa dạng, bãi cát đất có trữ lượng nước ngầm lớn để phát triển ao nuôi. - Có hệ sinh thái động thực vật đa dạng và phong phú: Tạo nguồn giống nuôi và nguồn thức ăn cho thuỷ sản nuôi trồng. Trái đất được bao bộc bởi 3/4 là đại dương, với nguồn lợi phong phú về sinh vật biển, về khoáng sản, vận tải biển, du lịch biển., đáp ứng các điều kiện cho phát triển kinh tế biển nói chung và kinh tế nuôi trồng thuỷ sản nói riêng cho các quốc gia có chủ quyền vùng biển.
Việt Nam là một quốc gia ven biển, nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Việt Nam có diện tích tự nhiên là 326.000 km2, bờ biển trãi dài trên 3.860 con sông ngòi, lạch lớn nhỏ, với độ nông sâu khác nhau, có thể xây dựng các cảng cá, bến cá cho tàu thuyền hoạt động phục vụ nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản vào ra neo đậu an toàn khi có giông bão. Bờ biển Việt Nam khúc khuỷu uốn lượn, chổ nhô ra tạo thành bán đảo, chổ lại lõm vào vòng lại tạo thành các vùng vịnh và cảng lớn. Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế biển rộng gấp hơn 3 lần đất liền (trên 1 triệu km2) bao gồm vùng nước nội thuỷ lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, có nhiều đảo, quần đảo có thể làm bến hậu cần và là ngư trường lớn cho khai thác và các vũng, vịnh, cửa sông kín là nơi có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên như: Biển Hồ, Hồ Ba Bể, Hồ Lắk, Hồ Tây. và các hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện như Thác Bà, Hoà Bình, Dầu Tiếng, 8 Thác Mơ, Trị An, Sông Hinh, Thạch Hãn, Kẻ Gỗ. với tổng diện tích lên đến trên 200. Đây là diện tích mặt nước có thể kết hợp để phân lũ trong mùa mưa, tích nước làm thuỷ lợi, thuỷ điện, du lịch dịch vụ và phát triển nuôi trồng thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Diện tích mặt nước khoảng: 1. Trong đó: - Ao hồ nhỏ, mương vườn: 120. - Hồ chứa mặt nước lớn: 340. - Ruộng có khả năng nuôi trồng thuỷ sản: 580.
- Diện tích bãi cát ngang vùng bờ biển có thể phát triển ao hồ nuôi trồng thuỷ sản trên cát theo các tỉnh ven biển, đặc biệt ở khu vực Miền Trung, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên. Ngoài ra có các cửa sông và khoảng 300.000 ha eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thuỷ sản đang được quy hoạch. [131 * N g u ồ n lợ i g iố n g lo à i th u ỷ sản Giống loài thuỷ sản phải phong phú và có nhiều loại quý, có giá trị kinh tế cao và có thể phù hợp với nuôi trồng, đảm bảo các điều kiện về hiệu quả đầu tư, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn giống loài thuỷ sản. Ở Trung Quốc, Thái Lan, Pêru, Canada có nhiều giống loại quý đã được thuần hoá đưa vào nuôi trồng thành công.
Nước ta có rất nhiều loài cá và thuỷ đặc sản, có nhiều loài rất phù hợp cho nuôi trồng, đặc biệt là nuôi trồng cho xuất khẩu: - Biển nước ta có trên 2.000 loài cá với trữ lượng trên 4 triệu tấn, khả năng khai thác 1,6 - 1,7 triệu tấn /năm, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế cao. Một số loài trong số đó có thể đưa vào nuôi trồng, sản xuất chủ động từ khâu giống đến thương phẩm với các quy mô khác nhau. 9 - Vùng nước ngọt đã thống kê được 544 loài, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Nhân dân ta đã đưa nhiều loài vào nuôi trồng đạt hiệu quả như: loài cá mè, trắm cỏ, cá quả, ba ba, chình.
- Vùng nước lợ, nước mặn: Các nhà khoa học đã thống kê được 186 loài. Một số loài có giá trị kinh tế cao như: Cá song, cá tráp, cá vược, cá măng, cá đối, cá dìa, cá cam, cá bống. - Ngoài ra còn có nguồn lợi về tôm cua các loại: Đã thống kế được hàng trăm loài có giá trị kinh tế và có thể đưa vào nuôi như: Tôm hùm sỏi, tôm hùm bông, tôm càng xanh, cua, nghẹ. - Về nhuyễn thể: Có các loài chủ yếu như: Trai, hầu, điệp, nghêu, sò, ốc.Đặc biệt có các loài trai đưa vào nuôi cấy lấy ngọc có giá trị kinh tế cao.
- Về rong tảo: Có 90 loài có giá trị kinh tế đáng kể là các loài rau câu (11 loài), rong mơ, rong sụn.có giá trị xuất khẩu và làm dược liệu quý.