phần mở đầu và kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận chung về huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2. Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam II Chƣơng 3. Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam II 7 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 1. hái niệm v ngân hàng thư ng mại NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
NHTM đóng vai trò làm môi giới, trung gian cho sự gặp gỡ giữa cung và cầu tiền tệ thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cƣ và các tổ chức trong xã hội rồi cho vay lại đối với cá nhân, tổ chức đang có nhu cầu và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Hoạt động của ngân hàng phản ánh tình hình nền kinh tế, sự vững mạnh, hay yếu kém của nền kinh tế đƣợc phản ánh rất rõ qua hoạt động của ngân hàng. Để xác định một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, ngƣời ta thƣờng phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tƣợng hoạt động. Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2013), "Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế" [6].
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) của Việt Nam, "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Trong đó “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [17]. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011), "NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính.
NHTM có những đặc điểm giống nhƣ các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, cũng sử dụng các yếu tố 8 sản xuất nhƣ lao động, đối tƣợng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào để sản xuất ra các yếu tố đầu ra dƣới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu” [4]. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM, nó tùy thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhƣng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cả các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Chức năng của ngân hàng thư ng mại - Trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tƣ. Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức: thứ nhất là các cá nhân và tổ chức có thu nhập hiện tại lớn hơn các khoản chi tiêu nên họ có tiền để tiết kiệm, thứ hai là cá nhân và tổ chức có chi tiêu vƣợt quá thu nhập vì thế cần bổ sung vốn.
Tuy nhiên do sự không phù hợp về thời gian, không gian, quy mô, tình trạng “thông tin không cân xứng”… mà quan hệ trực tiếp giữa 2 nhóm này bị nhiều giới hạn, cần phải có một trung gian đứng ra tập hợp các ngƣời tiết kiệm và đầu tƣ. Đó là cơ sở làm nảy sinh trung gian tài chính. Cơ chế hoạt động của trung gian tài chính giúp phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch, làm tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính. - Tạo phương tiện thanh toán: Ban đầu các ngân hàng tạo phƣơng tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng.
Với ƣu điểm nhất định, dần dần giấy nhận nợ của ngân hàng đã trở thành phƣơng tiện thanh toán rộng rãi đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận, thay thế tiền kim loại làm phƣơng tiện cất giữ và phƣơng tiện lƣu thông, nó trở thành tiền giấy. Theo quan điểm hiện đại, lƣợng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: thứ nhất là tiền giấy trong lƣu thông (Mo), thứ hai là số dƣ trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn. Khi NH cho vay, số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa dịch vụ. Do đó, việc cho vay của các ngân hàng đã tạo ra phƣơng tiện thanh toán.
9 Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phƣơng tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi đƣợc mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác. - Trung gian thanh toán: ngân hàng có thể thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ thay khách hàng. Việc thanh toán qua ngân hàng đƣợc tiến hành nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí thông qua nhiều hình thức thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng: séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lƣới thanh toán điện tử. Công nghệ ngân hàng phát triển cũng nhƣ sự hình thành các trung tâm thanh toán trong nƣớc, quốc tế đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế [6].
Đặc điểm của ngân hàng thư ng mại Là một định chế tài chính trung gian. - Hoạt động đa dạng và tổng hợp nhiều nghiệp vụ, dịch vụ. - Thu hút nguồn vốn trƣớc hết bằng huy động tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, sau đó sử dụng nguồn vốn này thực hiện cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng. Ngoài ra còn có các dịch vụ khác: Thanh toán, chuyển tiền, bảo lãnh, ủy thác,… - Thông qua hoạt động cho vay và thanh toán, hệ thống các NHTM có thể tạo ra lƣợng bút tệ, là bộ phận quan trọng trong khối cung tiền tệ của nền kinh tế, có ảnh hƣởng lớn đến chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ƣơng.
- Ngoài ra, tổng tài sản của NHTM luôn là khối lƣợng tài sản lớn nhất trong toàn hệ thống NHTM [4]. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thư ng mại Hoạt động và vai trò của NHTM không phải là bất biến, nó liên tục phát triển theo sự phát triển của kinh tế xã hội. Ngày nay, hoạt động của NHTM rất phong phú và đa dạng, tùy theo điều kiện kinh tế và mức độ phát triển k thuật của mỗi quốc gia mà các nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ. Hiện nay, hoạt động của các NHTM gồm: * Hoạt động huy động vốn bao gồm các hình thức: Nhận tiền gửi, đi vay và 10 phát hành giấy tờ có giá.
- Nhận tiền gửi: Gồm tất cả các khoản tiền gửi của mọi tổ chức và cá nhân gửi tại ngân hàng. Tiền gửi đƣợc phân loại theo nhiều cách nhƣng cách phân loại hay đƣợc sử dụng nhất là chia theo kỳ hạn: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn vốn rẻ và quan trọng của ngân hàng, tuy nhiên do ngƣời gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thƣờng xuyên biến động, vì vậy ngân hàng phải thƣờng xuyên duy trì một lƣợng tiền mặt nhất định để bảo đảm khả năng thanh khoản, phần số dƣ còn lại sẽ đƣợc sử dụng chủ yếu đem cho vay ngắn hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi mà ngƣời gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi.
Nhƣng để cạnh tranh thu hút khách hàng thì các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trƣớc hạn tuy nhiên họ sẽ phải chịu một khoản phạt chẳng hạn chỉ đƣợc hƣởng lãi suất không kỳ hạn. Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là huy động tiền gửi để cho vay. - Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay là quan hệ vay mƣợn giữa NHTM với NHTW và với tổ chức tín dụng khác.
- Phát hành giấy tờ có giá: Bên cạnh phƣơng thức nhận tiền gửi, các ngân hàng còn phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn nhƣ chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành có độ thanh khoản cao, chúng có thể chuyển hóa dễ dàng ra tiền thông qua việc mua bán trên thị trƣờng vốn hoặc chiết khấu tại các ngân hàng. Do các giấy tờ có giá đƣợc hƣởng lãi suất hấp dẫn lại có độ thanh khoản cao, nên ngân hàng có thể huy động đƣợc nhanh chóng một khối vốn lớn thông qua phát hành giấy tờ có giá, đồng thời có thể sử dụng nguồn vốn này vào các mục đích đã đặt ra. * Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hình thức: Cho vay; Bảo lãnh; Cho thuê tài chính; Đầu tƣ vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tƣ góp 11 vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác; Đầu tƣ vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh; dự trữ một phần nguồn vốn huy động đƣợc để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc.
- Cho vay: Là nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Trong đó NHTM sẽ cho ngƣời đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tƣ hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn ngƣời đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi.