CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM VÀ THỦY SẢN 1. Cơ sở lý luận về phát triển TTCN chế biến NLTS 1. Khái niệm TTCN và TTCN chế biến NLTS Tiểu thủ công nghiệp (TTCN): là cụm từ viết tắt của tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Tiểu công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất của các cơ sở công nghiệp, cơ sở kinh tế cá thể, hộ gia đình có quy mô nhỏ, bao gồm các nghề thủ công.
Thông thường, các cơ sở công nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành; cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, như kinh tế hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thủ công nghiệp: là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản.
Đây là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công. TTCN ở nông thôn thường gắn liền với thời gian nông nhàn, nhưng nó lại có thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp, vì vậy mà nhiều hộ đã rời hẳn nông nghiệp sang sản xuất TTCN. Cho nên TTCN phát triển mạnh ở nông thôn thường gắn liền với các làng nghề truyền thống. Tiểu thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp có quy mô nhỏ.
TTCN có nền tảng cơ bản là nghề thủ công, ở đó hệ thống công cụ lao động thô sơ đã được cải tiến và thay thế một phần bằng máy móc mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, bao gồm các hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, có trang bị máy móc hoặc thủ công (Hoàng Văn Xô, 2000). TTCN chế biến nông, lâm và thủy sản: là hoạt động của TTCN, sản phẩm sản xuất ra có nguồn nguyên liệu đầu vào lấy từ sản phẩm của ngành nông nghiệp (trồng 10 trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp (rừng trồng và rừng tự nhiên) và ngư nghiệp (nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản) (Hoàng Văn Xô, 2000). Khái niệm phát triển và TTCN chế biến NLTS Tăng trưởng và phát triển: Theo PGS. Phan Thúc Huân (2006), tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực ra chúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau.
Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế xã hội rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó. Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau: - Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và ngoài nước; - Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư; - Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế 11 trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Phát triển bền vững: Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện năm 1980, do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên quốc tế (IUCN) công bố. Năm 1984, Bà Gro Harlem Brundtland khi đó làm thủ tướng Na Uy đã được Đại hội đồng Liên Hợp quốc ủy nhiệm làm Chủ tịch ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) nay còn gọi là ủy ban Brundtland. Năm 1987, trong bản báo cáo “Tương lai của chúng ta” do ủy ban Brundtland đã công bố phát triển bền vững (Sustainable Development): “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” và được được thế giới công nhận là khái niệm chính thức (Nguyễn Đình Hợi, 2008).
Phát triển bền vững tức là lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường: đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tài nguyên cho sản xuất ra của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần phải để cho các thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường. Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách môi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển.
Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường. Phát triển TTCN Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, chúng ta thấy rằng phát triển ngành nghề TTCN là sự tăng lên về qui mô ngành nghề TTCN và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của ngành nghề TTCN. Sự tăng lên về qui mô ngành nghề TTCN được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của từng ngành nghề TTCN và số lượng ngành nghề được tăng lên theo thời gian và không gian, trong đó ngành nghề TTCN cũ được củng cố, ngành nghề TTCN mới 12 được hình thành. Từ đó giá trị sản lượng của ngành nghề TTCN không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của ngành nghề TTCN.
Sự phát triển ngành nghề TTCN yêu cầu sự tăng trưởng của ngành nghề TTCN phải đảm bảo hiệu quả kinh, tế xã hội và môi trường. Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển ngành nghề TTCN còn yêu cầu: sự phát triển phải có kế hoạch, qui hoạch; sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất.đảm bảo hợp lý có hiệu quả; nâng cao mức sống cho người lao động; không gây ô nhiễm môi trường; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Đặc điểm của TTCN chế biến NLTS So với công nghiệp khai thác và các ngành công nghiệp chế biến khác, TTCN chế biến NLTS có một số đặc điểm riêng, chi phối đến việc xác định vai trò và các quan điểm phát triển, quản lý ngành, đó là: Thứ nhất, do nguồn nguyên liệu có đặc tính sinh vật nên TTCN chế biến NLTS thường được tiến hành thông qua hai giai đoạn: giai đoạn sơ chế bảo quản và giai đoạn chế biến công nghiệp. Thứ hai, sản phẩm của TTCN chế biến NLTS thường gắn liền với với nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của con người.
Do có nhiều yếu tố khác nhau, như tâm lý, tập quán, văn hóa, thu nhập, tiến bộ khoa học công nghệ, môi trường… nên việc tiêu dùng trong nhân dân đang tác dụng mạnh mẽ đến xu hướng và việc phát triển TTCN chế biến nông, lâm nghiệp và thủy sản, như: xu hướng sử dụng các loại nông sản sạch; xu hướng sử dụng các loại nông sản đã qua chế biến. Hai xu hướng này làm cho các yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, về đảm bảo chất dinh dưỡng, đảm bảo thời hạn sử dụng … ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn. Thứ ba, TTCN chế biến NLTS phát triển trong sự gắn bó mật thiết với nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Nguyên liệu chính và chủ yếu của TTCN chế biến NLTS thường có nguồn gốc sản xuất trong nước.
Vì vậy, quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu của TTCN chế biến NLTS còn phụ thuộc vào rất lớn vào quy mô, tính chất và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Mặt khác là ngành chế biến các sản phẩm của nông nghiệp nên công nghiệp chế biến NLTS là 13 ngành đảm bảo đầu ra cho ngành nông nghiệp, tạo động lực cho ngành nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường. Vì vậy, thế mạnh của nông nghiệp nước ta là sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nông sản, lâm sản và thủy hải sản sẽ tạo điều kiện khai thác ngày càng tốt và có hiệu quả thế mạnh đó. Tuy vậy, nhận thức đặc điểm này cần chú ý tới các vấn đề sau: Nguyên liệu cho TTCN chế biến NLTS không chỉ là sản phẩm NLTS, mà còn nhiều loại nguyên liệu do ngành công nghiệp cung cấp, như các loại vật liệu bao bì, hóa chất.
Các loại vật liệu này ngày càng có vai trò quan trọng; ở nước ta, chúng chưa được phát triển tương xứng, chính điều đó làm hạn chế khả năng khai thác thế mạnh sản xuất các loại nông sản nhiệt đới.