CHƯƠNG 1; VAI TRÒ CỦA VỐN NGÂN HÀNG VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM. KINH TÉ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TÉ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRONG NỀN KINH TÉ VIỆT NAM. Khái quát vê kinh tê nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1976, Việt Nam đã tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp trong cả nước.
Trong khi dân số tăng lên với mức trên 2%/năm, sản lượng nông nghiệp tăng trưởng chậm, làm cho dân chúng thất vọng và nền kinh tế bị trì trệ. Hiện tượng sút kém trong sản xuất lương thực thực pham va các nông sán khác do cơ chê hợp tác hóa nông nghiệp cùng với mức nhập khẩu lương thực cao trong những năm 1980 và một phần do những chính sách nghiên về công nghiệp nặng, sự phân bố và sử dụng tài nguyên lệch lạc, quản lý trong sản xuất nông nghiệp không hữu hiệu (quản lý theo mô hình hợp tác xã nông nghiệp) cộng với cơ sở hạ tầng kém phát triển tác động làm cho nông nghiệp Việt Nam gần như không tăng trưởng từ năm 1976-1980. Vì sự đình trệ này mà Nhà nước đã có những thay đồi về chính sách tháng giêng nam 1981, Ban châp hành Imng ương Đáng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chi thị so: 100 ve cơ che khoán sán phâm trong nông nghiệp; đất đai của các hợp tác xã đã được phân phối cho các hộ nông dân để sư dụng ngắn hạn nông dân có quyên giữ lại tòan bộ sản lượng vượt khoán và có quyền bán ở thị trường tự do, và nông nghiệp lại cất cánh từ năm 1980-1984. Tuy nhiên nhimg thanh qua đạt được ơ giai đoạn này đã yẻu dân đi và một lần nữa nông nghiệp bị trì trệ.
Sau đó, một đợt cải cách mới (Nghị quyết 10 của Ban chấp hành Trung Ương Đang Cộng san Việt Nam tháng 04 năm 1988) lại làm nhịp độ phát triến tăng lên; nhưng từ năm 1988, ngoài thời tiết và tác dụng tương 5 đôi cua đầu tư Nhà nước, nguyên nhân làm cho nhịp độ tăng trưởng lúc cao lúc thâp là do nhừng thay đổi trong chính sách ruộng đất cùng với những thay đôi vê giá cả thực tê trả cho nông dân cũng như các mức mà nông dân phải trả VỚI cơ chê kê hoạch hóa tập trung áp đặt mức giá cứng nhắc không phù hợp với mức giá thị trường. Từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã tiến hành các cuộc cải cách về luật pháp, thiết chế và kinh tế song song với việc tự do hóa thương mại một cách có chọn lọc. Tiến trình này đã mang lại sự ổn định kinh tế vĩ mô, một mức tăng trướng bình quân hàng năm trên đầu người là 6% trong giai đoạn 1990- 2001, giảm một nửa số người nghèo từ 58% năm 1993 xuống còn 29% năm 2002; nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã chuyến từ thiếu đói sang an ninh lương thực, trở thành một quôc gia xuất khấu gạo đứng thứ nhì, xuất khẩu cà phê đứng thứ 3 trên thế giới. Năng suất lương thực tăng lên, thu nhập người nông dân được cải thiện.
Qua hơn 20 năm đôi mới, nông nghiệp Việt Nam về cơ bản đã chuyển sang sản xuât hàng hoá, phát triên tương đối toàn diện, tăng trưởng khá (bình quân 4,2%/nãm). Công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bước đầu phục hôi và phát triên; kêt câu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, môi trường sinh thái và đời sông nông dân ở hầu hết các vùng được cải thiện rỏ rệt. Quan hệ sản xuất từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triẻn nền nông nghiệp hàng hoá; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn được bảo đảm. Những thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn định và phát triên kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đây nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
1uy vậy, cơ câu kinh tê nông nghiệp và nông thôn chuyển dịch chậm chưa theo sát với thị trường. San xuất nông nghiệp ơ nhiều nơi còn phân tán manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ 6 vao san xuât chậm; trình độ khoa học, công nghệ của sản xuất nhiều mặt còn lạc hạu nên năng suât, chât lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp còn thâp, kém hiệu quả và thiêu bền vững. Công nghiệp ở nông thôn nhât là công nghiệp chê biên nông, lâm, thuỷ sản phát triển chậm; ngành nghề va dịch vụ chưa thu hút được nhiêu lao động; lao động còn phố biến là thủ công, tỉ lệ qua đào tạo thấp, thiếu việc làm nghiêm trọng. Kết cấu hạ tầng phục vụ sán xuât và đời sông ở một số vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiêu sô còn nhiêu khó khăn.
Quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu câu phát triên nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế mới. Đời sống vật chất văn hoá cúa nhân dân ở nhiêu vùng nông thôn còn thấp kém, chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng đang tăng lên. Những tồn tại trên có nguyên nhân khách quan là do xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm chiến tranh, nông dân và nông thôn nươc ta còn nghèo, thiêu vôn, dân trí thâp, gặp nhiều khó khăn trong việc trang bị may móc, thiêt bị và áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ mới vào sản xuât, tiêp cận và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Bên cạnh đó cũng tồn tại những nguyên nhân chủ quan như : Nhận thức về vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn chưa đầy đủ và chưa sâu sắc.
Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn chưa được thực hiện nghiêm túc. Một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp, chậm được điều chỉnh kịp thời, nhất là chính sách về đất đai tín dụng khoa học, công nghệ và thị trường. Hệ thông quản lý, chỉ đạo phát triển nông nghiệp và nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá và xây dựng nông thôn mới. Công tác quy hoạch, kế hoạch chất lượng thấp chưa phù họp VỚI yêu câu của cơ chẻ thị trường.
Đầu tư cho nông nghiệp nông thôn tuy đã có nhiều cố gắng nhung chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác nghiên cứu và triên khai khoa học, công nghệ phục vụ nông nghiệp nhất là 7 giống cây trồng, vật nuôi và chế biến nông, lâm, thuỷ sản chưa được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ. Thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn chậm được tong kết. Việc nghiên cứu vận dụng các kinh nghiệm vê công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước vào điều kiện nước ta còn nhiều hạn chế.
Kinh tế nông nghiệp nông thôn và đặc trưng của kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp là một khu vực đặc biệt nhậy cảm đối với những nước đang phát triển đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp. Nông nghiệp ở Việt Nam sử dụng 69% lực lượng lao động của Việt Nam, và 45 % dân nông thôn sống dưới mức nghèo. Bình quân một đơn vị canh tác hộ gia đình chỉ có 0,7 hécta.
Các nhân tố như mất mùa hoặc giá nông sản bị tụt giảm do sự cạnh tranh của hàng nhập khấu là những mối đe dọa tiềm tàng đến thu nhập của hàng triệu người dân rât dễ bị tổn thương, vấn đề đặt ra là phải duy trì tăng trưởng nông nghiệp, trong những giới hạn về vốn, đất đai, tài nguyên là một trong những yêu cầu lớn và Đảng, nhà nước đặc biệt quan tâm. Đe hiểu rõ hơn về kinh tế nông nghiệp nông thôn và đặc trưng của kinh tế nông nghiệp, nông thôn ta đi vào nghiên cứu các khái niệm cơ bản về nông nghiệp và phát triến nông thôn. P h á t tr iê n k in h t ế là quá trình cải thiện mức sống và phúc lợi cùa người dân ở các nước đang phát triển thông qua việc gia tăng thu nhập bình quân đâu người. Điều này thường đạt được bằng cách gia tăng quá trình công nghiệp hóa so với sự phụ thuộc vào khu vực nông nghiệp.
P h á t Iriên n ô n g th ôn là quá trình cải thiện mức sống và phúc lợi ơ nông thôn; qua trình này chủ yếu đạt được thông qua gia tâng san xuất, sản lượng và thu nhập từ nông nghiệp. Ớ các nước dang phát triển như nước ta hiện nay, phát triển nông thôn chu yếu liên quan đến sản xuất nông nghiệp nhỏ. Vì vậy, việc 8 phát triển nông thôn Việt Nam cần chú trọng đến đầu tư phát triển nông nghiệp. P h á t tr iể n n ô n g n g h iệ p là quá trình cải thiện mức sống và phúc lợi cua dân số trong khu vực nông nghiệp.
M ụ c tiê u p h á t tr iể n n ô n g th ô n : Trên thế giới hiện nay có khoảng 850 triệu người luôn sống trong đói nghèo, đa số là nông dân san xuất nhỏ, do vai trò to lớn của nông dân san xuất nho ở nhiều nền kinh tế đang phát triển, nên việc hỗ trợ nông dân sẽ đây mạnh tiềm năng tăng trưởng kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu : - T h ú ’ n h ấ t, n â n g c a o n ă n g s u ấ t s a n x u ấ t n ô n g n g h iệ p q u i m ô n h ỏ. Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ và có năng suất thấp chủ yếu là do: sự xói mòn, cạn kiệt và khan hiếm nguồn đất và nước; thiếu công nghệ và nguồn lực về các giống cây trồng cải tiến đã được sứ dụng: thiếu các dịch vụ khuyến nông.Việc nâng cao năng suất sản xuất nông nghiệp phải thực hiện đông bộ các mặt sau: cai thiện hạ tầng đường giao thông, năng lượng và thông tin liên lạc, cải thiện việc quản lý và phục hồi đất đai, việc quan lv nước qui mô nhỏ; Chính phủ hô trợ người dàn thòng qua việc đầu tư để cải thiện hoạt động quản lv nước, đầu tư xây dựnu hệ thống kho bãi sau thu hoạch (lưu trữ, thu hoạch, sử dụng), đầu tư nghiên cứu phát triển giống cây trồng và vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; Tăng cao khả năng tiếp cận vắc xin phòng bệnh; phổ biến đển người dân phải đảm bào sự bền vững của môi trường thâm canh, Chính phủ cần trợ giá “thòng minh" cho những vùng nghèo thiếu lương thực.