Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Quế là lâm sản ngoài gỗ (NTFP) và là đặc sản lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao. Tinh dầu quế là nguyên liệu quý trong ngành dược phẩm và thực phẩm nên cũng có thể xếp Quế vào nhóm cây công nghiệp (Trần Cửu, 1983), (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003). Ngoài ra, do tán lá khá dày, rậm rạp và xanh tươi quanh năm nên vườn quế còn có tác dụng phòng hộ khá hiệu quả.
Cây Quế là cây thân gỗ, sống lâu năm. Một cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể lên tới 40cm. Quế có lá đơn mọc ở hoặc gần các lá đối diện nhau, có 3 gân gốc kéo dài đến đầu lá và thấy rõ ở mặt dưới lá, gân hai bên gần như song song, mặt trên lá có màu xanh bóng, mặt dưới có màu xanh bóng. bề mặt của lá có màu xanh đậm.
Lá trưởng thành dài khoảng 18 - 20cm, rộng khoảng 6 - 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt dọc. Tất cả các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều chứa tinh dầu, đặc biệt vỏ cây có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt tới 4-5%. Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chính là Cinamic Aldehyt chiếm khoảng 70 – 90%.
Khi cây Quế được khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa. Hoa quế mọc ở nách lá ở đầu cành, hoa mọc thành chùm, chỉ bằng nửa hạt thóc, mọc lên phía trên lá, màu trắng hoặc hơi vàng. Quế ra hoa vào tháng 4, 5 và quả chín vào tháng 1, 2 năm sau. Quả quế chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím, quả mọng chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 - 3000 hạt.
Hệ rễ Quế phát triển mạnh mẽ, rễ cọc ăn sâu vào lòng đất, các rễ bàng mọc lan, đan chéo nhau nên Quế có khả năng sống tốt ở vùng núi dốc. Khi còn non, cây quế cần có đủ bóng mát để sinh trưởng và phát triển tốt. Càng lớn khả năng chịu bóng giảm dần và sau khoảng 3-4 năm trồng cây Quế hoàn toàn ưa sáng. Tinh dầu quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng.
4 Vì vậy, Quế còn được biết đến là cây đa công dụng và là một trong những loại cây được lựa chọn trong chương trình dự án nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp đồng bào miền núi có cơ hội làm giàu. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế không còn dồi dào nữa. Đặc biệt hiện nay người dân đang chuyển sang trồng cây keo nhiều hơn cây quế, vì cây keo cho lợi nhuận sớm hơn (chỉ khoảng 4 - 5 năm là thu hoạch). Trước mắt, rừng trồng có diện tích trồng hẹp, khó mở rộng, làm giảm sản lượng sản phẩm.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về Quế trên thế giới 1. Tình hình sản xuất Quế trên thế giới Số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy bức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua. Những năm gần đây, nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không có biến động đáng kể về nguồn cung Quế. Vì vậy, dữ liệu của FAO về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở các nước trên thế giới.1: Giá trị sản xuất Quế tên thế giới từ năm 2003-2011 Quốc gia Yếu tố 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Thế giới Diên 151.529 In-đô-nê-xi-a tich 73.102 Việt nam Thu 17.079 Trung Quốc hoach 31.300 Các tiểu quốc đảo đang phát triển 2.000 700 800 Trung phi 153 156 194 201 220 220 224 228 210 Sao Tome and Principe 153 156 194 201 220 220 224 228 210 Thế giới Sản 132.274 In-đô-nê-xi-a Lượng 64.300 Các tiểu quốc đảo đang phát triển 459 396 400 400 370 387 375 329 353 Timor-Leste 105 100 109 114 119 126 121 100 105 Grenada 100 Seychelles 200 150 120 100 Nguồn: Thống kê của FAO về giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ 2003-2011 (http://faostat.org/) 6 Trong 10 năm qua, diện tích trồng quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.529 ha năm 2011, trong đó đặc biệt đáng chú ý là Việt Nam.
đạt mức tăng trưởng hai con số với tốc độ 15,6%. Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần từ 17.000 ha trong năm 2003 lên 54. Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka rõ ràng là những cường quốc sản xuất Quế chính trên thế giới. Indonesia chiếm 45% tổng diện tích trồng Quế, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với tỷ lệ lần lượt là 24%, 17% và 13%.
Đặc tính sinh thái: Chi Quế là một cây thơm thuộc họ Long não (Lauraceae), và là một trong những họ có hoa được nghiên cứu rộng rãi nhất, bao gồm khoảng 250 loài. Các thành viên của họ này là những cây thường xanh, cao tới 10 - 17m, mọc ở Đông Nam Á, Úc và Nam Mỹ (Cheng BC, 1983). Những bông hoa lưỡng tính, có màu vàng với 9 nhị hoa, và những quả chủ yếu là hình elipsoid màu đen dài 10 - 15mm (Cheng BC, 1983). Cây cao 10 - 17m, vỏ màu xám, lá thuôn dài 10 - 15cm.
Tất cả các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều chứa tinh dầu. Hoa mọc thành chùm, nhỏ, màu trắng. Quả quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím, quả mọng trong suốt chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 - 3000 hạt. Hệ rễ Quế phát triển mạnh mẽ, rễ cọc ăn sâu vào lòng đất, các rễ bàng mọc lan, đan chéo nhau nên Quế có khả năng sống tốt ở vùng núi dốc.
Kỹ thuật gây trồng Nhiều nước Trên thế giới trồng Quế đã rất thành công đã cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m. Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 - 5 tháng tuổi. Khi cây 8 - 10 tuổi được khai 7 thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 - 12 đến tháng 3 năm sau.
Lá được thu hàng năm ở các cây còn trẻ và sinh trưởng tốt, luân phiên đối với cây già và yếu. Lá sau khi thu được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng và đem bán. Sản lượng mỗi cây khoảng 9 - 19 kg/năm. Trồng quế là một thành phần quan trọng trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (Akhtar Husain và cs, 1988).
Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng. Ngoài việc chăm sóc lâm sinh và bón phân, biện pháp duy nhất là cắt tỉa những cành phía dưới thân cây. Loại phân bón khuyến khích là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 - 100kg/ha tùy theo tuổi cây, nhưng người trồng quế ít sử dụng phân bón (Akahil Baruah et al, 2004). Giá trị sử dụng Công dụng truyền thống của Quế ở khắp châu Á, châu Phi và châu Âu đã được ghi nhận, nơi nó được sử dụng như một loại thuốc trị tiêu chảy, buồn nôn và ớn lạnh, hoặc làm gia vị cho các loại thịt.
Vỏ quế là một nguồn quan trọng cho những mục đích này, vì nó chứa một lượng lớn tinh dầu có chức năng. Quế chiết xuất từ vỏ cây chứa 45% ~ 65% cinnamaldehyde , 12% ~ 18% eugenol (Cheng BC, 1983) và một lượng nhỏ cinnzeylanine, cinnzeylanol, arabinoxylan , 2'- hydroxycinnamalde-hyde, và 2'- benzoloxycinnamaldehyde (Lee. Là một thành phần chính, cinnamaldehyde đã được nghiên cứu kỹ lưỡng; và các hoạt động sinh học đa dạng của nó chống lại suy nhược hệ thần kinh trung ương (Harada M, 1972) và huyết áp cao, cũng như tác dụng giảm đau của nó (Harada M, 1972), đã được báo cáo. Chiết xuất từ nước của quế đã được báo cáo là có tác dụng chống dị ứng, chống viêm, hạ sốt, giảm đau và tác dụng chống huyết khối (Terasawa K và cs, 1983).
Gần đây, mối quan tâm của các nhà điều tra dường như đã chuyển sang tập trung hẹp vào việc xác minh tiềm năng ngăn ngừa hội chứng chuyển hóa của quế và bệnh tiểu đường (Anderson R. 8 Quế như một loại thuốc truyền thống Quế là một trong những nguyên liệu chính được sử dụng trong y học cổ truyền. Các chế phẩm có chứa vỏ cây Quế đã được kê đơn trong hơn 2000 năm ở Trung Quốc, nơi ghi chép đầu tiên về việc sử dụng nó được mô tả trong Quy luật về Dược thảo của Người chồng Thần thánh (Cheng BC, 1983). Do vai trò của nó trong việc xua tan cảm lạnh, thông mạch máu bị tắc và kiểm soát âm / dương như đã đề cập trong các tài liệu cổ của Trung Quốc, quế đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc và Nhật Bản cho điều trị sốt và viêm cũng như cải thiện sự thèm ăn do cúm hoặc cảm lạnh thông thường (Cheng BC, 1983).
Ngoài ra, quế còn được dùng làm chất thơm để pha chế nước trái cây, rượu, bánh ngọt cũng như dùng để nấu thịt. Chiết xuất quế đã được sử dụng để cải thiện hoặc bảo vệ chống lại cảm lạnh thông thường, tiêu chảy và đau (Cheng BC, 1983). Người ta cũng báo cáo rằng quế cải thiện tình trạng viêm thận , viêm da có mủ và tăng huyết áp, cũng như làm tăng khả năng chữa lành vết thương, ngay cả khi bị rắn hoặc viper cắn (YanShen và cs, 2012). Tuy nhiên, những tác dụng này không được hỗ trợ đầy đủ bởi dữ liệu thực nghiệm hoặc lâm sàng cho đến nay.
Các thành phần hoạt chất trong Cinnamomum Cinnamaldehyde là thành phần chính (45 ~ 65% lượng tinh dầu trong vỏ quế) của các loài thực vật thuộc chi Cinnamomum (Cheng BC, 1983). Eugenol được chứa như một thành phần chính thứ hai; và cinnzeylanine, cinnzeylanol , arabinoxylan 2'-hydroxycinnamaldehyde, và 2'- benzoloxycinnamaldehyde (Lee. W, 1999) cũng được phát hiện. Thành phần hóa học của các hợp chất này được thể hiện trong.
chiết xuất từ nước nóng từ thanh quế (vỏ cây quế khô) tạo ra 8,5 mg / ml cinnamaldehyde và 3,6 mg / ml cinnamyl alcohol (YanShen và cs, 2012). 9 Tác dụng dược lý của quế Các nghiên cứu in vitro và in vivo trên chiết xuất quế hoặc các thành phần của nó (chủ yếu là cinnamaldehyde) cho thấy rằng những chất này thể hiện nhiều tác dụng dược lý, chẳng hạn như chống nấm , chống tim mạch, chống ung thư, chống viêm, chống đông máu, chống tiểu đường, kháng vi- rút, hạ huyết áp , chống oxy hóa, và những chất làm giảm cholesterol và lipid.