Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Thực trạng công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 1. Nông thôn và vai trò của nông thôn 1. Khái niệm về nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn.
“Nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Ở nông thôn, người dân thường sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp” [37]. “Vùng nông thôn thường là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân. Nông thôn thường có mật độ dân số thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn” [37].
Theo Tổng cục thống kê Việt Nam: “Nông thôn bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4000 người, mật độ dân cư ít hơn 6000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt dưới 60%, tức là tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đạt từ 40% trở lên” [18]. Vai trò của nông thôn Nông thôn Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Nông thôn là nơi cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến.
Nông thôn, nông nghiệp cũng là nơi sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu để phục vụ đời sống con người. Nông thôn là nguồn cung cấp lao động dồi dào, chiếm trên 70% lao động của xã hội. Số lao động đó sẽ góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu 7 lao động, nâng cao năng suất lao động nếu như được đào tạo nâng cao trình độ và trang bị công cụ lao động thích hợp. Khu vực nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển và năng động, với dân số đông và nhu cầu cơ giới hóa, hiện đại hóa ngày càng nhiều sẽ là thị trường tiêu thụ hàng hóa đa dạng về chủng loại, số lượng, chất lượng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, như máy móc, thiết bị cơ điện nông nghiệp, máy cấy, máy gặt, đập… Nông thôn góp phần đảm bảo tình hình ổn định của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái, giảm nhẹ thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.
Nông thôn phát triển tạo điều kiện để ổn định tình hình kinh tế - chính trị và văn hóa - xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, phân công lao động có hiệu quả, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng. Từ đó giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao thu nhập, giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn. Xây dựng nông thôn mới Với khoảng 70% cư dân đang sống tại nông thôn, xây dựng Nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội. Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và là một cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp.
Đồng thời, phát triển sản xuất toàn diện về nông - công nghiệp và dịch vụ. Người dân có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất - tinh thần của người dân được nâng cao. Căn cứ trên tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (05/8/2008), chính phủ đã xây dựng và triển khai “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”. Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng [1].
8 Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Theo đó, chương trình đặt ra tham vọng đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 thì con số này được nâng lên thành 50% [14]. Các bước xây dựng nông thôn mới Trình tự 07 bước xây dựng nông thôn mới được quy định tại Điều 3, Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC của Liên Bộ: Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính ban hành ngày 13 như sau: Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện) Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng NTM [10]. Các chỉ tiêu đánh giá xây dựng Nông thôn mới Quyết định số 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia NTM được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 4 năm 2009 quy định có 3 cấp độ xây dựng NTM: xã nông thôn mới, huyện nông thôn mới,tỉnh nông thôn mới: - Xã NTM: đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM.
- Huyện NTM: có 75% số xã trong huyện đạt NTM. - Tỉnh NTM: có từ 80% số huyện trong tỉnh đạt NTM [13]. 9 Ngày 17 tháng 10 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTG về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 gồm 5 nhóm và 19 tiêu chí. Cụ thể: - Nhóm 1 là nhóm Quy hoạch có 1 tiêu chí Quy hoạch; - Nhóm 2 là nhóm Hạ tầng kinh tế - xã hội với 8 tiêu chí: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư; - Nhóm 3 là nhóm Kinh tế và tổ chức sản xuất với 4 tiêu chí: thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, tổ chức sản xuất; - Nhóm 4 là nhóm Văn hóa - Xã hội - Môi trường với 4 tiêu chí: giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm; - Nhóm 5 là nhóm Hệ thống chính trị với 2 tiêu chí: hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh [17].
So với Bộ tiêu chí đã được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg và Quyết định số 342/QĐ-TTg thì Bộ tiêu chí này vẫn với 19 tiêu chí nhưng đã tăng thêm 10 chỉ tiêu và có nhiều thay đổi về tên tiêu chí, tên chỉ tiêu và quy định về mức đạt được; đồng thời Bộ tiêu chí mới lần này có một số tiêu chí được để mở và giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức đánh giá mức đạt cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương như tiêu chí giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông. Vai trò, chức năng của cơ quan nhà nước từ cấp huyện đến cấp cơ sở trong đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới 1. Vai trò của chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội cấp huyện Cơ quan chính quyền địa phương cấp huyện có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức, quản lý quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương: Lập dự án xây dựng nông thôn mới ở huyện; Tổ chức thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện; Kiểm tra đánh giá quá trình xây dựng NTM ở huyện. 10 Các tổ chức chính trị xã hội cơ sở (Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Đoàn thanh niên …) có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới.
Đồng thời các đoàn thể cũng tích cực tham gia giám sát quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới. Vai trò của chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội cấp xã, Ban lãnh đạo các thôn, khu dân cư Xây dựng nông thôn mới là nghĩa vụ và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của cả toàn dân. Trong đó, chính quyền cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng, là cấp trực tiếp tổ chức triển khai, quản trị quy trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Để triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới được hiệu quả, việc đầu tiên của mỗi chính quyền địa phương phải thực hiện là xây dựng kế hoạch thực hiện của từng giai đoạn và từng năm.
Trong đó, chính quyền xã phải đặt ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn; phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương Thứ hai: Tổ chức triển khai quy trình xây dựng nông thôn mới ở xã là quy trình sau khi đã xác lập những việc làm cần phải làm thực thi phân công cho những đơn vị chức năng, cá thể đảm nhiệm việc làm đó, tạo ra mối quan hệ ngang dọc trong nội bộ mạng lưới hệ thống nhằm mục đích quản lý và vận hành uyển chuyển, đồng nhất và hướng tới tiềm năng đã định. Thứ ba: Kiểm tra đánh giá quá trình xây dựng NTM ở xã Công tác kiểm tra, giám sát, nhìn nhận có vai trò đặc biệt quan trọng quan trọng so với sự chỉ huy, tổ chức triển khai, thực thi chương trình tiềm năng vương quốc về xây dựng nông thôn mới. Nội dung kiểm tra, thanh tra, giám sát cần được chính quyền triển khai tổng lực, trong quy hoạch, góp vốn đầu tư, vận dụng chủ trương tương hỗ, quá trình thực thi, … Cần phải thực thi kiểm tra về việc thực thi theo những tiêu chuẩn, vận tốc thực thi quy trình xây dựng nông 11 thôn mới, đồng thời kiểm tra về việc thực thi chủ trương xây dựng NTM, kiểm tra đội ngũ cán bộ xem có thực thi đúng trách nhiệm của mình không, ở đầu cuối là kiểm tra về quy trình phân chia và sử dụng nguồn lực.