CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦư TƯĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TÊ NÔNG THÔN l.M ôi quan hệ giữa vốn đầu tu với sự tăng trưởng và phát triển kinh tê l.T ăng trưởng và phát triển kinh tê là mục tiêu chiến lược của quản lý nền kinh tê vĩ mô Mục tiêu chủ yếu của các nước nghèo là phát triển kinh tế hoặc tăng trưởng kinh tế. Hai thuật ngữ này không giống nhau. Tăng trưởng có thể là điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ cho sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế nói đến sự gia tăng về sản.
lượng hay thu nhập bình quân đầu người của một nước. Sản lượng thường được đo bằng tổng sản phẩm quốc dân (GNP), đó là tổng sản lượng của hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế. Phát triển kinh tế nói đến sự tăng trưởng kinh tế kèm theo những thay đổi về phân phối sản lượng và cơ cấu kinh tế. Những thay đổi này có thể bao gồm việc nâng cao mức của cải vật chất của một nửa dân cư nghèo, một sự giảm sút về tỷ phần của nông nghiệp trong GNP và sự gia tăng tương ứng tỷ phần trong GNP của công nghiệp, tài chính, xây dựng và quản lý Nhà nước, một sự gia tăng về giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động và những tiến bộ kỹ thuật đáng kể được tạo ra trong nền kinh tế.
Theo luận điểm của các trường phái kinh tế học của sự phát triển cho rằng: đối với các nước chậm phát triển thì sự thay đổi cơ cấu ngành đặc biệt là sự chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp là một nội dung quan trọng của sự phát triển. Luận điểm này có thể khái quát như sau: 12 Thứ nhất: Các quốc gia quan tâm đến tăng trưởng và ổn định nền kinh tế nhất thiết phải chú ý đúng mức đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ hai: Vừa đề cao vai trò quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, vừa đề ra nội dung cụ thể: tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội(GDP). Thứ ha: Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa rất đa dạng, không có khuôn mẫu, phải xuất phát từ đặc điểm, từ điểm xuất phát của mỗi quốc gia, mỗi địa phương để thực hiện mới hy vọng kiếm tìm kết quả tốt.
Thứ tư: Vai trò can thiệp của Nhà nước được xem là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành bại của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ năm: Để có một cơ cấu ngành hợp lý, các Chính phủ phải đánh giá được các nguồn lực bên trong và kêt hợp các nguồn lưc bên ngoài trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế trong thế giới hiện đại. Căn cứ thực tế và điều kiện cu thể của Việt Nam, chúng ta đã tiếp thu và kế thừa có chọn lọc các quan điểm về phát triển, ổn định và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thế giới. Điều này đã được thể hiện ở Nghị quyết Đại hội Đảng lần VII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng lần VIII: Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tê lạc hậu sang cơ cấu kinh tê hiện đại, nền kinh tê quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều quy mô nhiều trình độ công nghệ.
Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chê biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đê ôn định tình hình kinh tê - xã hội, xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích họp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp. Thực hiện chuyên môn hoá và liên kết giữa các vùng, các địa phương, xây dựng các trung tâm kinh tê của từng vùng để tao điều kiện liên kết công nghiêp với 13 nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu văn hóa"[11]. Trên tinh thần đó, Đảm* ta đã: - Coi phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa là nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu. - Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tê nhiều thành phần trong đó quốc doanh và kinh tế hợp tác xã đổi mới là nền tảng và điều kiện củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức, phát huy tiềm năng của kinh tế hộ gia đình và các thành phần kinh tế khác.
- Găn sản xuất vói thị trường, có chiến lược khoa học công nghệ và chính sách bảo vệ sản xuất kinh doanh phù hợp với bối cảnh mở cửa canh tranh. - Gắn phát triển kinh tế nông thôn với phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bảo vệ và phát triển tài nguyên môi trường, xây dựng nông thôn mới, đổi mới kinh tê đi đôi với đổi mới chính trị. Tóm l ạ i : Phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn nói riêng là một yêu cầu bức thiết, khách quan trong quá trình phát triển của đất nước nhằm thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thực chất là việc chuyển dich cơ cấu kinh tê nông thôn từ thế độc canh, thuần nông sang nền nông nghiệp phát triển toàn diện, đa dạng hóa các ngành nghề: trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.
Mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhằm: - Giải phóng mọi sức sản xuất, khai thác tiềm năng to lớn của nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là đất đai, nguồn nước, sức lao động. - Đáp ứng yêu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. - Nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nông dân, đổi mới bộ mặt của nông thôn. 14 -Đáp ứng yêu cầu phân công lại lao động xã hội hợp lý, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân.Vốn là nhân tô cho sự phát triển Muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội cần phải đầu tư, muốn đầu tư cần có vốn, vốn bỏ vào hoạt động đầu tư gọi là vốn đầu tư.
Vốn là một trong năm yếu tố để phát triển kinh tế (công nghệ, lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và trình độ quản lý). Bất kỳ một quốc gia nào trên thê giới, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế, điều kiện tiên quyết là phải có vốn, đặc biệt là các nước chậm phát triển. Chúng ta không thể triển khai áp dụng thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nếu không tập hợp được các nguồn vốn lẻ tẻ trong dân cư thành một nguồn vốn khổng lồ được phép sử dụng lâu dài. Vai trò của vốn được thừa nhận trong mọi hình thái kinh tế - xã hội, đặc biệt là hình thái kinh tế khi tiền tệ trơ thành một hàng hóa đặc biệt, làm chức năng trung gian trong mua bán trao đổi.
Hơn nữa, sự phát triển kinh tê quốc dân phụ thuộc rất nhiều vào việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, trang bị những công nghệ tiên tiến hiện đại, việc đầu tư này đòi hỏi một số vốn đầu tư rất lớn. Đề cập đến hoạt động đầu tư, vốn đầu tư, không thể không đề cập đến ảnh hưởng của kết quả đầu tư: rất rõ ràng, kết quả đầu tư thể hiện ở sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đầu tư phát triển có kết quả sẽ làm tăng giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ nhưng ý nghĩa quyết định của nó là làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của một quốc gia. Những nghiên cứu kinh tế lượng của các nước phát triển cho thấy: sự hình thành vốn đầu tư và tiến bộ công nghê là các yếu tô chính tao ra sư tăng trưởng kinh tê của phương Tây và Nhật bản vào 125 - 150 năm trước đây.
Sự gia tăng năng suất của môi công nhân trên môt đơn vi vốn là nguồn quan trọng hơn so với việc tăng thêm vốn trên mỗi công nhân. Sở dĩ có điều này là 15 do tác động của những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, giáo dục và đào tạo- sự cai tien to chưc san xuât, hiệu qua kinh tê theo quy mô và sư chuyển dich nguồn lực. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng ở các nước đang phat tnen lại cho thây răng: sự đóng góp của vốn trên mỗi công nhân là quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế hơn là năng suất của mỗi công nhân trên một đơn vị vốn, v ì : Từ hàm sản xuất biểu diễn tổng sản lượng: Y = F ( T L K N E) với việc biến đổi tăng giảm các yếu tố đầu vào T (công nghệ), L (lao động) K (vốn), N (tài nguyên thiên nhiên), E (trình độ quản lý) cho thấy: do năng suất biên của vốn ( ÔY/ ÔK) ở các nước đang phát triển cao hơn so với các nước phát triển do vốn được kết hợp với nhiều lao động hơn. Mặt khác ở các nước đang phát triển, do mức vốn ban đầu thấp, nên quá trình tích lũy đã tạo ra tỷ lệ tăng trưởng cao về vốn (ÔK/K) [1].
Đó là những nguyên nhân tạo ra sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu ở các nước đang phát triển.Tính chất của vốn Như đã nói ở trên, vốn là yếu tố không thể thiếu đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất trong bất kỳ phương thức sản xuất nào. Do đó vốn là phạm trù kinh tế khách quan và đồng thời là quan hệ kinh tế - xã hội.Vốn cô định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định. Theo quy đinh hiẹn hanh, những tư liệu lao đông có đủ tiêu chuẩn về giá tri và thời gian sử dụng thì mới được coi là tài sản cố định. Đặc điểm của tài sản cố định là thời gian sử dụng dài nên có thể tham gia vào nhiều kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái hiện vật ban đầu nhưng giá trị bị giảm dần do hao mòn.
Sự hao mòn này phụ thuộc vào tình hình và thời gian sử dụng chúng và được biểu hiện dưới hai hình thức là hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình. Giá trị hao mòn của vốn cố định được phản ánh dần vào chi phí 16 chúng được bù đắp thông qua phần trích khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn. Vốn cố định được phân thành các loại sau : - Vốn cố định dùng trực tiếp trong quá trình kinh doanh.