Mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế hộ gia đình. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Phú Tân trong thời gian qua. Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Phú Tân.
Kết luận và kiến nghị. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế hộ gia đình 1. Kinh tế hộ gia đình Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình chỉ bao g m một thành viên hoặc g m nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ công việc nhà.
Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống. Quan điểm của Haviland (2003) thì hộ gia đình đƣợc hiểu nhƣ là một đơn vị của xã hội bao g m một hay một nhóm ngƣời cùng chia sẻ bữa ăn và không gian sống. Hộ gia đình bao g m khái niệm gia đình nhƣng những thành viên trong hộ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dƣỡng hoặc cả hai. Hộ gia đình chỉ là một hình thức t n tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng.
Hộ gia đình trƣớc hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và địa lý. Ở nông thôn có nhiều kiểu tổ chức hộ gia đình, nhƣ hộ gia đình nông nghiệp (thuần nông), hộ gia đình nông - phi nông (h n hợp), hộ gia đình phi nông nghiệp (hộ phi nông). Kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế, trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (là tất cả những ngƣời trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động) để sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của gia đình và xã hội (Đào Thế Tuấn, 2013). Phát triển kinh tế hộ gia đình Phát triển đƣợc coi nhƣ là một tiến trình biến chuyển của xã hội, là chu i những biến chuyển có mối quan hệ qua lại với nhau.
Sự t n tại và phát triển xã hội hôm nay là sự kế thừa những di sản đã diễn ra trong quá khứ. Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc của ngƣời dân bao hàm nâng các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về các cơ hội. ngoài ra việc đảm bảo về các quyền chính trị và công dân là những mục tiêu rộng 11 hơn của phát triển. Có thể hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con ngƣời sinh sống ở bất cứ nơi nào đều đƣợc thoả mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lƣợng cuộc sống, có trình độ học vấn cao, đƣợc hƣởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần có đủ điều kiện cho một môi trƣờng sống lành mạnh, đƣợc hƣởng các quyền cơ bản của con ngƣời và đƣợc đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực.
Theo Đào Thế Tuấn (2013), phát triển kinh tế hộ gia đình là việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và mô hình sản xuất, kinh doanh thích hợp với khả năng lao động của gia đình và điều kiện đất đai, tự nhiên để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân, góp phần xây dựng đất nƣớc. Các đặc điểm của kinh tế hộ gia đình Đặc trƣng bao trùm của kinh tế hộ là các thành viên trong gia đình làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình. Nhìn chung là kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hoá nhỏ với năng suất lao động thấp, nhƣng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nƣớc đang phát triển nói chung và ở nƣớc ta nói riêng. Với những đặc trƣng trên, tuỳ theo tình hình và điều kiện cụ thể của từng nƣớc, từng vùng, từng loại hộ mà hình thành những đặc trƣng cụ thể đa dạng về hình thức quản lý, về ruộng đất, quy mô, về vốn tài sản, lao động (Nguyễn Văn Huân, 2013).
Kinh tế hộ gia đình có những đặc điểm nhƣ sau (Nguyễn Văn Huân, 2013): Về hình thức quản lý: Trong nông hộ việc quản lý chủ yếu là ngƣời chủ hộ đ ng thời cùng tham gia lao động với các thành viên trong gia đình. Có trƣờng hợp giao cho các thành viên trong gia đình có năng lực uy tín quản lý. M i hộ, nông trại là một đơn vị (kinh tế) kinh doanh tự chủ. Ruộng đất: Ở nhiều nƣớc trên thế giới ruộng đất do nông hộ, nông trại sử dụng thuộc sở hữu cá nhân.
Chủ nông hộ, nông trại vừa là ngƣời sử dụng ruộng đất vừa là ngƣời sở hữu ruộng đất. Đối với Việt Nam ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nƣớc. Các nông hộ đƣợc giao quyền sử dụng đất lâu dài tùy theo từng loại đất mà 12 hộ tr ng các loại cây tr ng hàng năm hoặc lâu năm. Cơ cấu sản xuất của nông hộ, nông trại: M i hộ đều có loại hình phát triển kinh tế riêng.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, từng nông hộ có hình thức sản xuất khác nhau: Có loại nông hộ sản xuất mang tính độc canh, sản xuất chủ yếu là cây lƣơng thực nhƣ ngô, lúa. Có nông hộ vừa tr ng trọt, chăn nuôi vừa làm ngành nghề tiểu thủ công. Có hộ chuyên làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp với chế biến và một số ngành nghề khác. Vốn và tài sản của hộ: Nhìn chung các hộ đều sử dụng vốn tự có để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống.
Tùy theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn sản xuất khác nhau. Các hộ trung bình và nghèo có ít vốn và thiếu vốn. Các hộ khá và giàu có vốn nhiều hơn nhƣng vẫn thiếu vốn để mở rộng sản xuất. Nhiều hộ có nhu cầu vay vốn nhƣng tùy thuộc vào điều kiện của từng hộ mà đƣợc vay nhiều hay ít.
Về tƣ liệu sản xuất: Nhìn chung các hộ đều tự sắm các tƣ liệu sản xuất thông thƣờng. Các hộ nông dân tùy theo từng vùng, địa phƣơng sử dụng tƣ liệu khác nhau: các nông hộ ở miền núi chủ yếu dùng trâu, bò để cày, bừa, một số hộ có dùng máy móc cày thuê; ở vùng đ ng bằng đất bằng phẳng chủ yếu sử dụng công cụ máy móc để sản xuất. Lao động trong nông hộ: Trong kinh tế hộ lao động chủ yếu là do chủ hộ phân công các thành viên trong gia đình tham gia sản xuất. Những nông trại lớn có thể thuê lao động ngoài, nhƣng lực lƣợng chủ yếu vẫn là các thành viên trong gia đình hoặc bà con họ hàng.
Còn ở Việt Nam trong các nông hộ các thành viên trong gia đình thƣờng làm đủ loại các công việc (tr ng trọt, chăn nuôi, nghề phụ) do sự phân công hàng ngày của bố hoặc mẹ. Một số nông hộ giàu nhiều đất đai, nhiều ngành nghề có thêm một số lao động thời vụ có kỹ thuật hoặc thuê lao động thƣờng xuyên. Vai trò của kinh tế hộ gia đình Kinh tế hộ đƣợc coi là tế bào xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của kinh tế nông nghiệp nông thôn nƣớc ta, giúp nâng cao đời sống của ngƣời dân và 13 góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc (Nguyễn Văn Huân, 2013). Kinh tế hộ gia đình có các vai trò nhƣ sau: Đóng góp GDP cho kinh tế của địa phƣơng.
Kinh tế hộ gia đình đã có những đóng góp nhất định vào tổng sản phẩm (GDP) cho kinh tế địa phƣơng; Đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nƣớc địa phƣơng; Kích thích, thúc đẩy thị trƣờng phát triển. Đối với thị trƣờng đầu vào, kinh tế hộ tham gia thị trƣờng thông qua việc cung ứng các nguyên vật liệu do khai thác hoặc thu mua lại của ngƣời dân. Đối với thị trƣờng bán ra, kinh tế hộ tham gia phân phối hàng hóa đến trực tiếp ngƣời tiêu dùng nhất là vùng xa, vùng sâu; Góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động; Nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động; Tiền đề phát triển thành công ty, doanh nghiệp. Kinh tế hộ còn có ý nghĩa trong việc tạo ra tiền đề, cơ sở ban đầu để phát triển lên công ty, doanh nghiệp (Nguyễn Hà Vũ, 2020).
Phân loại kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Trong sản xuất, kinh tế hộ gia đình là loại hình hình kinh tế đƣợc phát triền từ thấp đến cao, từ tự cung cấp đến sang sản xuất hàng hóa, từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đến các lĩnh vực phi nông nghiệp. Vì vậy, có thể phân chia kinh tế hộ gia đình nhƣ sau: 1. Nhóm kinh tế hộ nông nghiệp Nhóm kinh tế hộ sinh t n: là dạng phát triển thấp của kinh tế hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây tr ng vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống gia đình họ. Họ hầu nhƣ không có hoặc có rất ít vốn, công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu dẫn dến năng suất lao động thấp và họ tiến hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Nhóm kinh tế hộ tự túc: Nhóm này sản xuất ra lƣơng thực thực phẩm cũng cấp cho nhu cầu gia đình hàng ngày, sản xuất còn lạc hậu, không chịu tìm tòi, học hỏi, luôn bằng lòng với bản thân nên hiệu quả trong sản xuất của nhóm hộ này rất thấp. Nhóm hộ sản xuất nhỏ: Trong quá trình sản xuất có một bộ phận nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần sản xuất để cung cấp cho bản thân và gia đình còn phần 14 dƣ thừa để bán ra ngoài thị trƣờng. Đây là nhóm hộ phần nào biết làm ăn, chịu khó học hỏi nhƣng vẫn chƣa thực sự mạnh dạn đầu tƣ, vay vốn để làm ăn. Nhóm kinh tế hộ sản xuất hàng hóa lớn: Đây chính là những hộ sản xuất hàng hóa, nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tƣ phát triển loại hình kinh tế mang đặc trƣng của mô hình kinh tế trang trại.
Nhóm kinh tế hộ thuần nông có thu nhập chủ yếu từ ngành tr ng trọt và chăn nuôi, do vậy, các hộ này là chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện tự nhiên.