Mở đầu bằng chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu và thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” mà thực chất là chú trọng nâng cao giá trị sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu tư để tái sản xuất mở rộng đã tạo nguồn động lực cho sự phát triển của ngành Thuỷ sản. Định hướng phát triển ngành Thủy sản đã được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định: “Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh ngành nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường. Tăng cường năng lực và năng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; Nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường Quốc tế và trong nước.
Mở rộng và nâng cao cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông, nước đảm bảo sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ” [28]. Trên cơ sở đó phấn đấu sản lượng thuỷ sản đến năm 2010 đạt 3-3,5 triệu tấn, trong đó 1/3 là sản phẩm nuôi trồng, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3,5- 4 tỷ USD [9]. 11 Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định: “Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệp và sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hoá, sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững” [28].
Vùng biển và ven biển nước ta là địa bàn chiến lược về kinh tế - an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn để đẩy mạnh giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Định hướng phát triển các vùng, các khu vực là phải phát huy lợi thế của ngành, của khu vực để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Thực hiện chủ trương trên về chiến lược lâu dài, ngành kinh tế thuỷ sản có hướng phát triển trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 “Thế kỷ XXI chinh phục đại dương” được dự kiến như sau: - Mở rộng nuôi trồng và tiến ra khai thác vùng biển khơi phải được coi là chiến lược trong những năm tới nhằm đạt được mục tiêu sản lượng và chất lượng sản phẩm, bảo vệ nguồn lợi ven biển, đồng thời tạo ra khả năng có mặt thường xuyên và với số lượng lớn tàu thuyền đánh cá của ta trên biển khơi, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh trên vùng biển của tổ quốc. - Phát triển khai thác biển khơi xa là hướng rất quan trọng để thực hiện mục tiêu khai thác 1,7 triệu tấn hải sản vào năm 2010.
Kết hợp giữa đầu tư đồng bộ và hiện đại hoá cho các đội tàu đánh bắt dài ngày ở các vùng biển xa với tăng cường khâu hậu cần dịch vụ ven bờ. Nâng dần tỷ lệ đánh bắt xa bờ lên 50% vào năm 2010. - Phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển - khai thác tối đa diện tích mặt nước có khả năng để đưa sản lượng nuôi .trồng lên 1,1 triệu tấn năm 2005 và 1,67 triệu tấn năm 2010. Từng bước đưa ngành nuôi trồng tiến lên hiện đại.
- Đẩy mạnh việc nâng cấp và đổi mới thiết bị chế biến hiện đại gắn với các vùng nguyên liệu trọng điểm, tạo ra nhiều sản phẩm góp sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Tạo mũi nhọn xuất khẩu lớn thứ 2 (sau dầu khí) cho nền kinh tế quốc dân. - Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển khai thác và bảo vệ, làm giàu nguồn hải sản, hạn chế mức độ tối đa khai thác tuyến ven bờ. Quy định các khu vực cấm và hạn chế 12 khai thác nhất là mùa sinh sản.
Nghiêm cấm các hình thức đánh bắt mang tính huý diệt sinh thái như dùng chất nổ, bộc phá, hoá chất gây độc. Mục đích của chiến lược này là: - Không ngừng tăng phần đóng góp của ngành Thuỷ sản vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội đất nước bằng việc tăng cường xuất khẩu, tham gia thu nhập ngoại tệ và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, mức sống của các cộng đổng dân cư sống dựa vào nghề cá. Trên cơ sở phát triển kinh tế biển và các vùng ven biển, hải đảo góp phần tích cực và thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ an ninh và độc lập chủ quyền của đất nước. - Đóng góp tích cực vào việc đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia, nâng cao mức dinh dưỡng của nhân dân bằng cách góp phần tăng mức cung cấp sản phẩm thuỷ sản cho các thị trường trong nước và tạo điều kiện thuận lợi để người dân ven biển có thể tiếp cận được mọi loại thực phẩm.
- Đưa ngành Thuỷ sản trở thành ngành kinh tế được công nghiệp hoá và hiện đại hoá (CNH, HĐH) có luận cứ khoa học chắc chắn cho phát triển và áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, tiến tiến, nhằm không những tạo ra hiệu quả kinh tế cao, phát huy những lợi thế so sánh mà còn góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. - Xây dựng một ngành Thuỷ sản được quản lý tốt, nhằm đạt được sự phát triển ổn định, bền vững cho hiện nay và trong tương lai. - Không tăng sản lượng khai thác nhiều trong thời kỳ 2000 - 2010 giữ mức từ 1.000 tấn/năm (trong đó khai thác cá, tôm, mực khoảng 1,3 triệu tấn, nhuyễn thể 100. Tăng nhanh sản lượng nuôi trổng thuỷ sản từ 10-13% năm.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng tốc độ trung bình từ 15-20%/năm, trong đó giai đoạn 2000-2005 tăng 20-25%; 2005-2010 là 13-20%/năm. Giá trị xuất khẩu tương ứng là 1,8 - 2 tỷ USD năm 2005 và 3-3,5 tỷ USD năm 2010. Với những chủ trương định hướng đó, ngày 26 tháng 11 năm 2003 Quốc hội đã thông qua luật thuỷ sản, đây là hành lang pháp lý để ngành Thuỷ sản Việt Nam không ngừng phát triển theo hướng CNH, HĐH thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng 13 1.
Khái niệm tín dụng Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ La-tinh: Creditium, có nghĩa là tin tưởng, sự tín nhiệm (trong tiếng Anh: Credit; tiếng Pháp: Credit). Theo thuật ngữ dân gian Việt Nam tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng xuất phát từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và trao đổi hàng hoá. Trong quá trình trao đổi hàng hoá đã hình thành sự kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán.
Như vậy nếu hiểu theo nghĩa hẹp tín dụng là một quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình chuyển quyền sử dụng tiền tệ từ tổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác, theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định. Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sỏ hữu sang người sử dụng và người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng, hay còn gọi là tiền lãi. Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng, nhưng dù ở bất cứ dạng nào đi nữa thì tín dụng vẫn luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những quan hệ hàng hoá, tiền tệ.
Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hoá trong xã hội quyết định. Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan của phương tức sản xuất trong xã hội đó. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: Tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả gốc và lãi) sau một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay vừa là người đi vay. Tín dụng ngân hàng cung cấp dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiền mặt và bút tệ; nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn huy động của xã hội, các doanh nghiệp và cá 14 nhân với các thể thức huy động phong phú và đa dạng tạo thành nguồn tiền gửi ổn định. Từ đó các ngân hàng, tổ chức tín dụng tổ chức khâu cho vay đảm bảo về thời gian, khối lượng vốn mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản cho người gửi. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý, người ta có thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để tiến hành phân loại tín dụng. * Căn cứ thời hạn tín dụng, tín dụng được chia thành 3 loại. - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới các thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hổi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 60 tháng. Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các NHTM là cho vay ngắn hạn, nhưng ngày nay trong điều kiện hoạt động của nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tồn tại và phát triển, nghiệp vụ tín dụng trung, dài hạn càng được phát triển.