Mở đầu. Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của hộ vay nuôi trồng thủy sản. Nội dung chương nêu lên tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về sự tác động của các nhân tố khác nhau tới khả năng trả nợ của khách hàng là hộ vay NTTS.
Chương 3: Giới thiệu về Tiền Giang và thực trạng tín dụng ngân hàng đối với các hộ nuôi trồng thủy sản; cho vay hộ NTSS của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên địa bàn Tiền Giang. Chương 4: Phương pháp nghiên cứu. Mục đích của chương mô tả mô hình nghiên cứu, giải thích các biến số trong mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Chương 5: Phân tích kết quả: Mục đích của Chương này đưa ra một số phân tích tín dụng cho vay hộ NTTS tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên địa bàn Tiền Giang, các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng liên quan 5 dựa trên các kết luận đã nêu. Chương 6 cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA HỘ VAY NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản: Theo quan điểm của tổ chức FAO (2008): Nuôi trồng thủy sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh,… quá trình này bắt đầu từ khi thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong.
Dưới góc độ kinh tế học: Nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất, sử dụng yếu tố nguồn lực tài nguyên thiên nhiên đất và nước để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của các loài thủy sản nhằm tạo ra nguyên liệu thủy sản cho quá trình tiêu dùng thực phẩm thủy sản, hoạt động xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản (Nguyễn Quang Linh, 2012). Theo quan điểm của các nhà sinh học: Nuôi trồng thủy sản là hoạt động tạo ra các điều kiện sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời (Nguyễn Quang Linh, 2012). Trong đề tài này khái niệm về nuôi trồng thủy sản được hiểu theo quan điểm của các nhà kinh tế học, nuôi trồng thủy sản sử dụng các yếu tố đầu vào như: con giống, tài nguyên đất, nước và các công cụ sản xuất khác để tạo ra sản lượng thủy sản cho các hoạt động tiêu dung theo cách hiệu quả nhất. Hoạt động nuôi trồng thủy sản có những đặc trưng cơ bản sau đây (Nguyễn Quang Linh, 2012): 2.1 Phương thức nuôi trồng thủy sản: (i) Nuôi quảng canh thô sơ: Đây là phương thức nuôi dựa vào nguồn lợi thủy sản sẵn có trong tự nhiên mà người nuôi khoanh vùng, đắp bờ ao để giữ thủy sản.
Diện tích nuôi thường lớn, giao động từ 1,0 – 4,0 ha. Mỗi ao thường có một cống để vừa lấy nước, con giống, vừa thu hoạch. Tự nhiên là yếu tố quyết định đến kết quả nuôi quảng canh từ việc cung cấp con giống cho ao nuôi đến cung cấp thức ăn có 7 sẵn trong ao cho con giống sinh trưởng và phát triển. Hình thức nuôi này thường mang lại giá trị kinh tế tương đối thấp và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường (Nguyễn Quang Linh, 2012).
(ii) Nuôi quảng canh cải tiến: Đây là hình thức nuôi bằng cách thu hẹp diện tích, sửa chữa quy cách cống, làm bờ ao chắc, mua thêm con giống để thả và bổ sung thức ăn cho con giống nuôi. Diện tích ao nhỏ, trung bình từ 0,2 – 2,0 ha. Mật độ nuôi thấp, có chế độ chăm sóc, quản lý, cho ăn thức ăn bổ sung. (iii) Nuôi bán thâm canh: Đây là hình thức nuôi được tiến hành trên một diện tích nhỏ.
Mật độ nuôi cao và sử dụng thức ăn hỗn hợp, có áp dụng khoa học kỹ thuật. Hình thức này cần được mở rộng để xoá bỏ dần phương pháp nuôi quảng canh và tạo ra tiềm lực kinh tế cho đầu tư vào phương pháp nuôi tiên tiến hơn. (iv) Nuôi thâm canh: Đây là hình thức nuôi với mật độ cao trong các hệ thống khép kín, phần lớn được nuôi trong các bể hoặc trong các ao nuôi nhân tạo, lồng và các hầm có các dòng nước lưu thông để cung cấp dưỡng khí và chuyển tải thức ăn. Hệ thống nuôi thâm canh thường dùng thức ăn công nghiệp và điều kiện môi trường nước phải yêu cầu nghiêm ngặt.
(v) Nuôi công nghiệp: Đây là hình thức nuôi hiện đại, sử dụng một tập hợp các máy móc và thiết bị để tạo ra cho các đối tượng nuôi có một môi trường sinh thái và các điều kiện sống khác tối ưu. Nuôi công nghiệp thường nuôi trong các bể nhân tạo, mật độ thả cao, chu kỳ nuôi ngắn, việc sinh trưởng và phát triển của thủy sản ít bị hạn chế bởi thời tiết và mùa vụ.2 Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản, đất đai, diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt ở chỗ diện tích đất có giới hạn, vị trí cố định, sức sản xuất thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai, diện tích mặt nước không bị hao mòn mà còn tốt hơn. Đất đai, diện tích mặt nước không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình vị trí dẫn đến độ màu mỡ giữa các vùng thường khác nhau.
Chính vì vậy, khi sử dụng đất đai, diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải 8 quản lý chặt chẽ trên ba mặt: pháp chế, kinh tế và kỹ thuật (Nguyễn Quang Linh, 2012). Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là các động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều yếu tố môi trường như: thủy lý, thủy hoả, thủy sinh. Do đó, muốn cho các đối tượng này phát triền tốt, người nuôi phải tạo môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng nuôi. Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng phải phù hợp với yêu cầu sinh thái, với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của từng đối tượng nuôi thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định.
Nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ, quá trình sản xuất xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất do đó ngành nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ rõ rệt, chịu sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu tác động của môi trường tự nhiên. Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những loại động vật thủy sản sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên người nuôi phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của đối tượng này (Nguyễn Quang Linh, 2012).3 Vai trò của nuôi trồng thủy sản: Cung cấp những sản phẩm thực phẩm cho tiêu dùng trực tiếp, cung cấp nguyên liệu cho sự phát triển một số ngành khác: Nuôi trồng thủy sản góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được các yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn. Có thể nói nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho con người, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của con người, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Nuôi trồng thủy sản cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt là cho ngành chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản là nguồn chế biến thức ăn giàu đạm dùng để là thức ăn hoặc chế biến thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nuôi trồng thủy sản cung cấp nguyên liệu cho 9 ngành công nghiệp chế biến thực phẩm bao gồm các loại thủy sản như: tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển. Các nguyên liệu của ngành thủy sản còn được sử dụng để làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ. Đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung: Nuôi trồng thủy sản có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Vì vậy, phát triển mạnh ngành Nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ về cho đất nước: Trên thế giới, một số nước có ngành nuôi trồng thủy sản mạnh như: tại Na Uy chủ yếu nuôi cá hồi Đại Tây Dương, với hình thức nuôi lồng trên biển, chiếm thị phần đứng đầu thế giới; ở Chilê, sản lượng động vật thân mềm (chủ yếu là sò) và cá có vẩy (nuôi nước ngọt) chiếm ưu thế và chủ yếu phục vụ xuất khẩu; ở Thái Lan, sản lượng nuôi giáp xác chiếm 50%, chủ yếu là tôm biển phục vụ xuất khẩu. Ngoài ra, Indonesia là nước đứng thứ 4 về sản lượng tôm biển trên thế giới. Do vậy, thủy sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước (Ngọc Hà, 2014).
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thủy sản đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới. Theo thống kê của FAO (2008), trên thế giới ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào ngành thủy sản. Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn: Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản.