CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây chè 1. Nguồn gốc và phân loại thực vật của cây chè Các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho thấy, cây chè có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam). Những cây chè dại tiền sử được tìm thấy ở những cánh rừng nhiệt đới ẩm theo những triền sông lớn ở núi cao.000 năm, người Trung Quốc đã biết sử dụng chè để uống và coi như một loại dược liệu quí.
Người Pháp đã tìm thấy cây chè dại lá to vùng Atsam (Ấn Độ). Theo hệ thống phân loại thực vật, chè thuộc: Ngành: Hạt kín Angiosprtmae Lớp Hai lá mầm Dicotyledonae Bộ Chè Theales Họ Chè Theacaae Chi Chè Camellia Loài Sinensis Về thực vật chè được nhiều tác giả thống nhất tên cây chè là Camellia Sinensis (L) Kuntze, ở Việt Nam có 4 thứ. - Trung Quốc lá nhỏ ở vùng Lạng Sơn, búp nhỏ xanh tím đỏ năng suất thấp. - Trung Quốc lá to điển hình là chè Trung du lá to ở Phú Thọ, Tuyên Quang,Yên Bái, Bắc Thái.
5 - Shan (chè tuyết) ở Hà Giang, Nghĩa Lộ (Suối Giàng), Mộc Châu, Lâm Đồng, Tam Đường. - Ấn Độ là chè Assamica: Phú Hộ, Pleiku, Lâm Đồng. Đặc trưng hình thái Tuỳ theo từng thứ chè mà có các đặc trưng hình thái khác nhau. Thân cây chè: Tuỳ theo chiều cao, kích thước thân, cành, thân chè chia làm 3 loại: Thân bụi, cây gỗ nhỡ, cây gỗ vừa.
Về hình dạng cây chè không đốn và để tự nhiên có dạng vòm, điển hình là vòm suốt chỉ (cao và hẹp ngang, tán nhỏ), vòm cầu và nửa cầu (thấp hơn, to ngang và tán to), vòm mâm xôi (to ngang, mặt tán rộng). Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao. Thân nhỡ hay thân bán gỗ là loại hình trung gian, có thân chính tương đối rõ rệt, vị trí phân cành thường cao khoảng 20 - 30 cm ở phía trên cổ rễ. Đặc điểm của thân bụi là cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp, phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 thấp ngay gần cổ rễ.
Cành chè: Do mầm dinh dưỡng sinh trưởng lên, tuỳ theo vị trí mọc mà phân ra nhiều cấp: cấp 1, 2, 3. Trên cành chia làm nhiều đốt, chiều dài đốt biến đổi lớn (1 - 10 cm) phụ thuộc vào giống và điều kiện sinh trưởng. Đốt chè dài là một trong những biểu hiện giống chè có năng suất cao. Thân và cành tạo nên khung tán của cây chè.
Số lượng càng thích hợp và cân đối trên tán, cây chè cho sản lượng cao. Vượt quá giới hạn đó, năng suất không tăng nhưng phẩm cấp chè giảm do tạo nhiều búp mù. Trong sản xuất, cần nắm vững những đặc điểm sinh trưởng của cành để có các biện pháp kỹ thuật đốn, hái hợp lý tạo nhiều búp. 6 Mầm chè: Cây chè có 2 loại mầm, mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực.
Mầm dinh dưỡng chia ra mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, mầm bất định. Trong sản xuất, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực. Búp chè: Búp chè được hình thành từ mầm dinh dưỡng, gồm: tôm và 2 - 3 lá non. Quá trình sinh trưởng của búp chè chịu sự chi phối của nhiều yếu tố.
Các giống khác nhau có trọng lượng búp khác nhau. Búp chè có 2 loại: Búp bình thường (búp 1 tôm và 2 - 3 lá non) và búp mù là búp không có tôm. Búp càng non phẩm chất càng tốt. Búp mù là búp phát triển không bình thường, có trọng lượng bình quân bằng khoảng 1/2 trọng lượng búp bình thường, phẩm chất kém.
Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, có quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè. Hoạt động sinh trưởng của búp chè tuân theo một qui luật nhất định, được tóm tắt sơ đồ như sau: Lá chè: Lá chè mọc trên cành, hình thuôn, rìa lá có răng cưa, gồm có: lá vảy ốc, lá cá và lá thật. Rễ chè: Là bộ phận giữ cho cây đứng thẳng hút nước và dinh dưỡng đưa lên cây, gồm: rễ trụ (rễ cọc), rễ hút và rễ dẫn. Đối với cây chè phát triển từ hạt thì ngay từ lúc bắt đầu ra rễ đã phân biệt rõ rễ cọc và các rễ khác.
7 Nhưng đối với chè nhân giống vô tính hoặc giâm cành thì lúc cây con có bộ rễ kiểu chùm, khi cây sinh trưởng, phát triển lâu năm thì lại biểu hiện rễ cọc rất rõ. Sự phân bố của rễ chè trong đất phụ thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai và chế độ canh tác. - Hoa: Hoa chè là hoa lưỡng tính (một hoa có cả tính đực và tính cái). - Quả: Sau khi thụ tinh, quả chè được hình thành.
Thời gian phát dục của quả 9 - 10 tháng. Quả chè thuộc loại quả nang, một quả thường có 1 đến vài hạt. Hình dạng bên ngoài của quả phụ thuộc vào số lượng hạt trong quả. Quả có 3 hạt thì có hình 3 góc, quả có 4 hạt thì có hình 4 góc.
Trọng lượng hạt, tỷ lệ hạt/quả thay đổi tùy theo giống. Đặc điểm sinh hoá Thành phần sinh hoá búp chè gồm: nước và các hợp chất sinh hoá khác. - Nước là thành phần chủ yếu trong búp chè, chiếm từ 75-80%. - Tanin (hay chất chát) là thành phần cơ bản định giá chất lượng chè, quyết định màu sắc và vị chè.
- Chất hoà tan: Là hỗn hợp nhiều nhất trong búp chè, chủ yếu đạm, đường, vitamin, caphêin, catêsin, hương. tạo nên hương vị đặc trưng của từng giống chè. Sinh trưởng và phát triển Cây chè có 2 chu kỳ phát triển gọi là chu kỳ sống của cây chè: i) Chu kỳ phát triển lớn; ii) Chu kỳ phát triển nhỏ. Chu kỳ phát triển lớn của cây chè được các nhà khoa học Trung Quốc chia làm 5 giai đoạn: giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt giống), giai đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn, và giai đoạn già cỗi.
8 Chu kỳ phát triển nhỏ bao gồm các giai đoạn sinh trưởng, phát triển trong một năm như hạt nảy mầm, chồi mọc lá, ra hoa kết quả. Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng, cây không ra các lá non mới, hoa quả phát triển chậm, song bộ rễ lại phát sinh ra các rễ mới. Từ hạt mọc lên đến khi chết, cây chè trải qua những diễn biến sinh trưởng như trên, lặp đi lặp lại trong nhiều năm. Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực song song cùng tồn tại.
Hai chu kỳ trên có quan hệ mật thiết với nhau, các chu kỳ phát triển nhỏ được thực hiện trên cơ sở của chu kỳ phát triển lớn. Các hiện tượng hàng năm như hạt nảy mầm, đâm chồi, nảy lộc, mọc lá, ra hoa kết quả đều tiến hành trên cơ sở của chu kỳ lớn tích luỹ hàng năm gọi là tuổi sinh vật (tuổi chung) của cây chè. Những đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểm của giống (tính di truyền) với những điều kiện ngoại cảnh. Yêu cầu sinh thái chủ yếu của cây chè Cây chè tồn tại phát triển trong một hệ sinh thái nông nghiệp có giới hạn xác định.
Trong đó, yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết, đất đai, địa hình là vô cùng quan trọng. Khí hậu Lượng mưa và độ ẩm không khí: Ở nước ta, lượng mưa trung bình ở các vùng chè là 1.500 mm/năm là phù hợp với sinh trưởng cây chè. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm. Thời kỳ mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng vẫn có hạn cục bộ.
Mưa nhiều chè sinh trưởng tốt, mưa ít chè sinh trưởng kém, nếu thời tiết hạn chè tạm ngừng sinh trưởng, độ ẩm không khí cần cho chè sinh trưởng 80 - 85%. 9 Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố quyết định sinh trưởng cây chè, thích hợp 22 - 280C, sinh trưởng chậm 10 - 180 C và > 30° C, sinh trưởng rất chậm hoặc ngừng sinh trưởng dưới 10° C và > 40 0 C. Biên độ nhiệt ngày đêm ảnh hưởng đến chất lượng chè, biên độ ngày đêm lớn và nhiệt độ thấp có lợi cho chất lượng chè. Ánh sáng: Nhu cầu ánh sáng của cây chè trung tính, cây con ưa bóng dâm, cây lớn ưa ánh sáng.
Trong bóng râm, lá chè có màu xanh đậm, lóng dài, búp non lâu, quang hợp kém, sản lượng thấp. Ánh sáng tán xạ có ảnh hướng tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ nên chè trồng ở vùng núi cao có chất lượng tốt hơn trồng ở vùng thấp. Yêu cầu về đất trồng chè Cây chè phân bố ở các loại đất và địa hình rất đa dạng. Tuy nhiên trên thế giới, chè được trồng chủ yếu ở những dạng đất sau: Đất xám (AC-Acrisols): Bao gồm: Xám bạc màu, xám có tầng loang lổ, xám feralit, xám mùn trên núi là phù hợp cho trồng chè.
Đất đen (Lv-luvisols): Trong đó, đất nâu thẫm phát triển trên đá bazan là trồng chè tốt. Đất nâu (NL –Lixisols): Bao gồm: Đất nâu và xám nâu là phù hợp cho chè. Đất đỏ: (FR-Ferralsols): Trong đó, đất nâu đỏ, đất nâu vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi là thích hợp cho chè. Đất mùn alit trên núi cao (Al-Alisols): Bao gồm: Đất mùn alit trên núi cao, đất mùn than bùn trên núi cao.
Tầng dày của đất: Cây chè sinh trưởng cả đời trên một vị trí cố định, bộ rễ phát triển cả chiều sâu và chiều rộng. Vì vậy, chè cho năng suất cao và bền 10 vững đối với tầng đất dày từ 1 - 3 m, năng suất thấp và chóng tàn với tầng đất mỏng từ 40 - 60 cm. Kết cấu: Kết cấu đất ở dạng viên, hạt, đất tơi xốp giữ nước nhiều, thấm nước nhanh lại dễ thoát nước, có lợi cho sự sinh trưởng của bộ rễ chè và là điều kiện tốt cho các loại vi sinh vật đất phát triển. Thành phần cơ giới: Đất thịt pha cát đến thịt nặng (theo phân loại quốc tế) là phù hợp cho chè sinh trưởng.
Mực nước ngầm: Cây chè không chịu ngập nước lâu nên yêu cầu đất phải có mực nước ngầm > 1 m. Những nơi đất trũng, chè dễ bị chết. Độ chua pHKCl: pHKCl thích hợp từ 4 – 6, pHKCl < 4 cần bón vôi, pHKCl > 6,5 không nên trồng chè. Hàm lượng mùn: Năng suất chè tỷ lệ thuận với hàm lượng mùn trong đất.