Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Các nhân tố làm tiền đề cho sự phát triển của nông lâm kết hợp trên phạm vi toàn cầu 1. Các thay đổi về chính sách phát triển nông thôn Trong vòng 2 thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, dưới sự bảo trợ của Nhóm tư vấn về Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR), nhiều trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Việc phát triển các giống cây trồng ngũ cốc năng suất cao và các kỹ thuật thâm canh liên quan nhờ vào nỗ lực của một số Trung tâm và các chương trình quốc gia có liên quan đã tạo nên một sự thay đổi lớn về năng suất nông nghiệp mà thường được gọi là Cách mạng xanh (Green Revolution) (Borlaug và Dowswell, 1988).
Trong chương trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong những năm 1980 không chỉ chứa đựng nhiều yếu tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông dân thông qua gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát huy các lợi ích truyền thống của rừng. Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông nghiệp, FAO đặc biệt chú trọng nhấn mạnh vai trò quan trong của lâm nghiệp trong phát triển nông thôn, khuyến cáo nông dân và nhà nước nên chú trọng đặc biệt đến các ích lợi của rừng và cây thân gỗ đến sản xuất nông nghiệp, khuyến cáo các nhà quản lý sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của họ (King, K., 1987) Nhiều khái niệm mới về lâm nghiệp như lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội đã được hình thành và áp dụng ở nhiều nước mà nông lâm kết hợp thường được xem là một phương thức sử dụng đất nhiều tiềm năng, đem lại những lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương và toàn xã hội. Nạn phá rừng và tình trạng suy thoái môi trường Vào cuối thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80, sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu diễn ra, nhất là nạn phá rừng, đã trở thành mối quan tâm lo lắng lớn của toàn xã hội. Sự phát triển của nông nghiệp nương rẫy đi kèm với áp lực dân số, sự phát triển nông nghiệp thâm canh hóa học, độc canh trên qui mô lớn và khai thác 6 lâm sản là những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự mất rừng, suy thoái đất đai và đa dạng sinh học.
Theo ước tính của FAO (1982), du canh là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở châu Phi; diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở châu Phi, khoảng 16% ở châu Mỹ Latin và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của châu Á (FAO and IIRR, 1995). Sự gia tăng các mối quan tâm về nghiên cứu các hệ thống canh tác tổng hợp và các hệ thống kỹ thuật truyền thống Đã có nhiều kết quả nghiên cứu ban đầu ở nhiều khu vực trên thế giới về tính hiệu quả cao trong việc sử dụng các tài nguyên tự nhiên (đất, nước và ánh sáng mặt trời) cũng như tính ổn định cao của các hệ thống xen canh, các hệ thống canh tác tổng hợp so với hệ thống nông nghiệp độc canh (Papendick và cộng sự, 1976). Các nghiên cứu của các nhà nhân chủng học và khoa học xã hội về hệ thống sử dụng đất đã chỉ ra tầm quan trọng của các hệ thống canh tác tổng hợp bản địa/truyền thống và lưu ý cần xem xét chúng trong quá trình phát triển các tiếp cận mới (Nair, 1985) 1. Sự hình thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm Kết Hợp (ICRAF) Vào tháng 7/1977, được sự ủy nhiệm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada, John Bene đã tiến hành dự án nghiên cứu với các mục tiêu: - Xác định các khoảng trống trong đào tạo và nghiên cứu lâm nghiệp thế giới; - Đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nông nghiệp và lâm nghiệp ở các quốc gia nhiệt đới có thu nhập thấp và đề xuất nghiên cứu nhằm tối ưu hóa sử dụng đất; - Xây dựng các chương trình nghiên cứu lâm nghiệp nhằm tạo ra các tác động kinh tế, xã hội có ý nghĩa ở cho các nước đang phát triển; - Đề xuất các sắp xếp về tổ chức, thể chế để thực hiện các nghiên cứu trên một cách có hiệu quả và - Chuẩn bị kế hoạch hành động để có được ủng hộ của các nhà tài trợ quốc tế.
Mặc dù với mục đích ban đầu là xác định các ưu tiên nghiên cứu cho lâm nghiệp nhiệt đới, nhóm nghiên cứu của John Bene đã đi đến kết luận rằng: để tối ưu hóa sử dụng đất nhiệt đới, ưu tiên số một nên là nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp giữa lâm nghiệp với nông nghiệp và chăn nuôi. Hay nói cách khác, đã có một 7 sự chuyển dịch trọng tâm từ lâm nghiệp sang những khái niệm sử dụng đất rộng hơn, phù hợp hơn ở cả hai phương diện trực tiếp (trước mắt) và dài hạn (Bene và cộng sự, 1977) Báo cáo dự án này của IDRC đã được các cơ quan quốc tế xem xét và dẫn đến sự hình thành Hội đồng Quốc tế về nghiên cứu Nông Lâm kết hợp vào năm 1977, vào 1991 cơ quan này được đổi tên thành Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu NLKH (International Centre for Research in Agroforestry - ICRAF). Kể từ khi thành lập, ICRAF là tổ chức luôn đi đầu trong thu thập thông tin, tiến hành các dự án nghiên cứu, chuyển giao kết quả. Sự phát triển phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển Song song với sự phát triển khái niệm và các nghiên cứu kỹ thuật, phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp cũng không ngừng được cải thiện.
Trong một thập niên gần đây, các công cụ chẩn đoán - thiết kế - phát triển đã được phát triển trên cơ sở lý luận của các tiếp cận có sự tham gia vốn được sử dụng phổ biến trong lâm nghiệp xã hội. Các nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của môi trường chính sách đến phát triển nông lâm kết hợp và các tác động của phát triển nông lâm kết hợp lên hệ thống sử dụng đất, cảnh quan và môi trường kinh tế xã hội cũng như khả năng chấp nhận của nông dân cũng đang được chú trọng xem xét (Chương trình hỗ trợ LNXH, 2002). Bên cạnh đó, nhiều phương pháp nghiên cứu mới có liên quan đến các ngành khoa học khác như khoa học đất, sinh lý học thực vật, sinh thái học, khoa học hệ thống và mô phỏng, v. đã được áp dụng vào nghiên cứu nông lâm kết hợp đã tạo ra được các tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu.
Sự hòa nhập của nông lâm kết hợp vào chương trình đào tạo nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển nông thôn Ngày nay, các kiến thức về nông lâm kết hợp đã được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học, viện nghiên cứu-đào tạo về nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng của nông lâm kết hợp trong việc cải tạo đất, bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn nước nói chung đã được công nhận. Về thực chất thì nông lâm kết hợp thường được xem như là một hệ thống sử dụng đất có tiềm năng đem lại các ích lợi về lâm sản, lương thực thực phẩm trong 8 lúc vẫn có khả năng bảo tồn và khôi phục hệ sinh thái (Chương trình hỗ trợ LNXH, 2002). Lợi ích và vai trò của các hệ thống Nông lâm kết hợp 1.
Các lợi ích của nông lâm kết hợp Thực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng tài nguyên tổng hợp có tiềm năng thoả mãn các yếu tố của phát triển nông thôn và miền núi bền vững. Các lợi ích mà nông lâm kết hợp có thể mang lại rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các lợi ích trực tiếp cho đời sống cộng đồng và nhóm các lợi ích gián tiếp cho cộng đồng và xã hội. * Lợi ích trực tiếp của nông lâm kết hợp Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình nông lâm kết hợp được hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Điển hình là hệ thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta.
Ưu điểm của các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn. Các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại có thể tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu. để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cho hộ gia đình. Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho hộ gia đình. Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn 9 hán…).