Chương 1 giới thiệu cơ sở hình thành dự án và đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, chương này trình bày mục tiêu, ý nghĩa và phạm vi của đề tài. Chương 2 trình bày tổng quan các khái niệm và các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính, kinh tế, xã hội của dự án. Chương 3 mô tả dự án, giới thiệu về chủ đầu tư và trình bày những đặc điểm cụ thể của dự án.
Chương 4 tiến hành phân tích tài chính của dự án bằng cách xây dựng ngân lưu và các tiêu chuẩn đánh giá theo phương pháp dòng tiền chiết khấu và phương pháp truyền thống. Đồng thời, chương này đưa ra những nhận xét, đánh giá căn cứ trên các kết quả thu được. Chương 5 tiến hành phân tích rủi ro thông qua những yếu tố tác động đến dự án, sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy, phân tích kịch bản và phân tích Monte Carlo. Những tác động của dự án đối với kinh tế, xã hội được trình bày tại Chương 6.
Chương 7 trình bày những kết luận rút ra từ các kết quả đã phân tích và những đề xuất, kiến nghị của đề tài. 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN Chương này sẽ trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết được ứng dụng vào các phân tích trong đề tài này. Các lý thuyết được áp dụng bao gồm Phương pháp phân tích tài chính theo dòng tiền tệ chiết giảm có xét đến tác động của lạm phát, phân tích rủi ro và các phương pháp phân tích kinh tế, xã hội.1 KHÁI NIỆM DỰ ÁN ĐẦU TƯ Theo Luật đầu tư năm 2005, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoăc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo Luật đầu tư năm 2005, “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.2 PHÂN LOẠI ĐẦU TƯ Theo chức năng quản trị vốn đầu tư phân biệt thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó: - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý, hoạt động đầu tư.
- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác, mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo ngành đầu tư bao gồm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển công nghiệp, đầu tư phát triển nông nghiệp, đầu tư phát triển dịch vụ. Theo tính chất đầu tư thì có đầu tư mới, đầu tư chiều sâu và tận dụng năng lực sản xuất dịch vụ. Theo nguồn vốn ta phân biệt thành vốn trong nước và vốn nước ngoài.3 KHUNG PHÂN TÍCH KHẢ THI DỰ ÁN Các lĩnh vực phân tích của nghiên cứu khả thi được thể hiện trong Hình 2.1 Các nội dung phân tích của nghiên cứu tiền khả thi Nguồn: Cao Hào Thi, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004.
Nội dung chính của luận văn chủ yếu phân tích ba nội dung là phân tích tài chính, phân tích kinh tế và phân tích xã hội. Các yếu tố liên quan đến thị trường, kỹ thuật và phân tích nguồn lực do chủ đầu tư dự án thực hiện.4 CÁC QUAN ĐIỂM PHÂN TÍCH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Dự án đầu tư thường được phân tích theo quan điểm tài chính, quan điểm kinh tế và quan điểm xã hội. Trong quan điểm tài chính có hai quan điểm thường được sử dụng là quan điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ đầu tư. - Quan điểm tổng đầu tư (quan điểm của ngân hàng) nhằm đánh giá mức độ an toàn của việc cho vay nợ bằng cách xem xét dòng tiền chi phí đầu tư, vận hành, bảo trì của dự án và dòng tiền tính toán doanh thu để xác định nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của dự án.
- Quan điểm chủ đầu tư sẽ xem xét giá trị tiềm năng của dự án, nhà đầu tư muốn biết lợi nhuận ròng của dự án sau khi đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ trong đó bao 7 gồm đến trả lãi vay và vốn vay liệu có thật sự hấp dẫn hơn việc họ không thực hiện đầu tư hay đầu tư vào dự án khác. Theo quan điểm kinh tế thì bên cạnh đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án theo quan điểm người đầu tư và người cung cấp tài chính thì một dự án đầu tư cần phải được chứng minh trong phạm vi rộng của nền kinh tế xã hội của quốc gia. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi vì các mục tiêu của doanh nghiệp và chính sách đầu tư được xác định bởi nhà đầu tư có thể không phải lúc nào cũng phù hợp với chính sách kinh tế xã hội của quốc gia hay khu vực. Trong phân tích kinh tế, các nhà phân tích thẩm định quyết định đầu tư trên cơ sở sử dụng giá cả đã được điều chỉnh ứng với các biến dạng thị trường để chúng phản ánh chi phí nguồn lực hay lợi ích kinh tế thực sự đối với xã hội.
Xét trên quan điểm xã hội thì phân tích dự án sẽ liên quan đến việc xác định và nếu có thể lượng hoá những tác động ngoài kinh tế của dự án như các tác động về chính trị và xã hội. Phân tích xã hội cần xác định ai là đối tượng được hưởng lợi từ dự án, hưởng như thế nào và ai là người chịu thiệt từ dự án, chịu theo cách nào. Phân tích theo quan điểm kinh tế và xã hội được các cơ quan Quốc gia quan tâm vì muốn đánh giá lợi ích dự án liên quan đến lợi ích quốc gia hay không, làm cơ sở cho việc phê duyệt dự án đầu tư (Phạm Xuân Giang, 2010).5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Phân tích tài chính sử dụng những chỉ tiêu tài chính có liên quan, mỗi chỉ tiêu thể hiện một mặt khác nhau của dự án, trong phạm vi đề tài sử dụng các chỉ tiêu sau: 2.1 Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng – NPV Khái niệm: Giá trị hiện tại ròng là tổng lãi ròng của cả đời dự án được chiết khấu về năm hiện tại theo tỷ lệ nhất định. 8 Công thức (Glenn P.
Jenkins và Arnold C. Harberger, 2002): B C NPV 1 r Bt: lợi ích của dự án. Ct: chi phí của dự án. n: số năm hoạt động dự án.
Đánh giá: Dự án khả thi khi NPV ≥ 0 Khi lựa chọn một trong số nhiều dự án, dự án nào có NPV dương và lớn nhất thì sẽ được chọn đầu tư (Cao Hào Thi, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004).2 Chỉ tiêu suất sinh lợi nội tại - IRR Khái niệm: Suất sinh lợi nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó để chiết khấu dòng tiền tệ của dự án về hiện tại thì giá trị hiện tại của lợi ích bằng giá trị hiện tại của chi phí, lúc đó NPV=0. Công thức (Glenn P. Jenkins và Arnold C. Harberger, 2002): B C NPV 0 1 IRR NPV IRR r.
r r NPV NPV r1: tỷ suất chiết khấu nhỏ hơn. r2: tỷ suất chiết khấu lớn hơn. NPV1: giá trị hiện tại ròng, là số dương nhưng gần 0 được tính theo r1. NPV2: giá trị hiện tại ròng, là số âm gần 0 được tính theo r2.
Đánh giá: Dự án có IRR lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ lãi giới hạn định mức đã quy định sẽ khả thi về tài chính. Việc ra quyết định được thực hiện trên cơ sở so sánh IRR của dự án với suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (MARR). Theo quan điểm chủ đầu tư, IRR sẽ được 9 so sánh với MARR của chủ đầu tư, dự án được xem là có hiệu quả nếu IRR ≥ MARR. Nếu xét theo quan điểm tổng đầu tư, chúng ta sẽ so sánh IRR với WACC – giá sử dụng vốn trung bình có trọng số, dự án được xem là có hiệu quả nếu IRR ≥ WACC.
Khi so sánh và lựa chọn các dự án theo chỉ số IRR, chúng ta thường sẽ áp dụng phương pháp “gia số vốn đầu tư”.3 Chỉ tiêu tỷ số lợi ích trên chi phí – B/C Khái niệm: Tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C) là thương số giữa hiện giá dòng ngân lưu vào với hiện giá dòng ngân lưu ra. Công thức (Glenn P. Jenkins và Arnold C. Harberger, 2002): ∑!"# $ ∑!"# Bt - lợi ích dự án ở năm thứ t Ct - chi phí của dự án ở năm thứ t r - suất chiết khấu (%) Đánh giá: - B/C < 1 không chấp nhận dự án.
- B/C ≥ 1 chấp nhận dự án. - Với việc so sánh và lựa chọn một trong nhiều phương án, chọn phương án có đầu tư ban đầu lớn hơn nếu gia số vốn đầu tư là đáng giá, tức là tỷ số B/C (∆) ≥ 1 (Cao Hào Thi, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004).4 Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn Khái niệm: Thời gian hoàn vốn là một chỉ số hiệu quả kinh tế đơn giản và được sử dụng tương đối phổ biến trong phân tích dự án đầu tư. Đây được hiểu như là 10 thời gian cần thiết để có thể hoàn trả lại đủ vốn đầu tư bỏ ra, tức là tổng hiện giá thu hồi vừa bằng tổng hiện giá vốn đầu tư. Công thức (Cao Hào Thi, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004): Thời gian hoàn vốn không xét đến chiết khấu &'( 0 P CF ) Thời gian hoàn vốn có xét đến suất chiết khấu &'( CF 0 P r 1 P: vốn đầu tư ban đầu.
CFt: dòng tiền tệ ở thời đoạn t. Thv: thời gian hoàn vốn. r: suất chiết khấu. Đánh giá: Dự án có Thv thấp hơn thời gian hoàn vốn yêu cầu là đạt chỉ tiêu.
Nếu có hai dự án cùng mục tiêu, dự án nào có Thv bé hơn thì dự án đó đáng giá hơn.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ Phân tích kinh tế cho một dự án là nhằm đánh giá dự án trên quan điểm toàn bộ nền kinh tế và xác định xem việc thực hiện dự án có mang lại hiệu quả cho kinh tế quốc gia hay không. Về thực chất, phân tích kinh tế có cùng bản chất như phân tích tài chính.