Mở đầu - Phần 2: Tổng quan tài liệu - Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Kinh tế hộ: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Theo Ellis – 1988 thì hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn. Đặc điểm kinh tế hộ: là đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng.
- Hộ nông dân là: đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ, họ cũng có đầy đủ các yếu tố, các tư liệu phục vụ sản xuất. Đó là các nguồn lực đã có sẵn có của nông hộ như: lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, công cụ…Từ các yếu tố sản xuất đó nông hộ sẽ tạo ra các sản phẩm cung cấp cho gia đình và cho xã hội. Vai trò của kinh tế hộ: Tuy các hộ nông dân còn sản xuất một cách nhỏ lẻ, quy mô không lớn, năng suất chưa cao, hiệu quả kinh tế chưa cao, nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp. Các hộ nông dân đã sử dụng những điều kiện sẵn có để sản xuất, ổn định cuộc sống.
- Ngoài việc tạo ra các thành phẩm phục vụ cho gia đình và xã hội, kinh tế hộ nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ là cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất lớn đến người tiêu dùng, vì mô hình kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư không lớn, công tác quản lý khá dễ dàng so với các loại hình sản xuất khác. 5 - Tóm lại hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Hiệu quả kinh tế là quá trình sản xuất kinh doanh phải biết tiết kiệm và phản ánh tối đa tiềm năng của nguồn lực, tiết kiệm chi phí, đồng thời phải thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng số lượng và chất lượng hàng hóa sản phẩm cho xã hội. Hiệu quả kinh tế: là phạm trù phản ánh trình độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất, nhằm đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí đầu vào.
Hiệu quả xã hội : biểu thị mối tương quan giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội do sản xuất mang lại. Cùng với sự công bằng cho xã hội nó kích thích sự phát triển sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Nhờ phát triển của sản xuất mà xã hội ngày càng nâng cao được mức sống của người lao động cả về mặt vật chất và tinh thần, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm, các mối quan hệ xã hội được cải thiện, môi trường sống, điều kiện làm việc, trình độ xã hội cũng được nâng lên. Hiệu quả môi trường: thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí… Trong các hiệu quả thì hiệu quả kinh tế là quan trọng nhất nhưng không thể bỏ hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Vì vậy khi nói tới hiệu quả kinh tế người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.2 Khái niệm về cây lúa - Lúa là cây trồng cổ truyền của Việt Nam và là cây trồng quan trọng nhất, hiện nay vì diện tích gieo trồng lúa chiếm 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Việt Nam là trồng lúa. Gạo là lương thực thiết yếu hàng đầu của con người Việt Nam, và Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, là nguồn lương thực cho hơn nửa dân số. Có vai trò 6 quan trọng trong đời sống con người, gắn liền với bữa ăn hằng ngày của chúng ta từ ngàn đời nay cây lúa đã gắn bó với con người làng quê Việt Nam. Đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh nền văn minh lúa nước nó đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống ở nước ta.
- Chính vì tầm quan trọng của lúa gạo thời gian qua chính phủ Việt Nam luôn luôn đặt phát triển lúa gạo là nhiệm vụ trung tâm của phát triển nông nghiệp. Và đã có những đầu tư thích đáng cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi nhờ vậy mà chỉ trong vòng 30 năm đã biến nhiều vùng đất khó khăn trở thành những vùng đất trồng lúa trù phú cho đất nước mà điển hình nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư về khoa học công nghệ và khuyến nông đối với cây lúa và các chính sách hỗ trợ nông dân.3 Vai trò của cây lúa - Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân. Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 – 200 kg gạo/người/ năm tại các nước Châu Á, khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ.
- Để có được cây lúa, những người nông dân đã vất vả lao động từng ngày, từ gieo mạ, cấy mạ rồi chăm sóc, vun xới cho cây. Lúa được trồng ở những vùng đồng bằng châu thổ, nơi có phù sa bồi đắp. Cũng như đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúa lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, không chỉ có ở đồng bằng, cây lúa còn được trồng trên vùng cao với những ruộng bậc thang xanh mướt.
Lúa thích nghi đặc biệt với khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Phần lớn những người nông dân còn phụ thuộc vào cây lúa. Đây là một hình thức sản xuất nông nghiệp phổ biến và dễ thấy ở Việt Nam. Cây lúa đã đưa Việt Nam từ 7 nước đói kém sau chiến tranh thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới.
Mặc dù là cây nông nghiệp nhưng không thể thiếu những cây đó trong đời sống người Việt Nam. - Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao cây lúa lại có một vai trò quan trọng trong đời sống Việt Nam đến như vậy? Có thể thấy rằng, từ khi sinh ra, con người đã gắn bó với cây lúa và hạt gạo. Cây lúa không những là cây nông nghiệp mà còn là một loại cây lương thực cung cấp thực phẩm chủ yếu cho con người. Đôi khi người ta thấy rằng con người ăn cơm lâu, muốn thay đổi hương vị, đã tìm đến những quán phở, hàng bún.
Đó là một cách thay đổi khẩu vị hay đúng hơn là gạo đã dược biến tấu bằng một cách chế biến khác. Như vậy, cây lúa đã trở thành một loại cây gắn bó thân thiết với người dân Việt Nam trong lao động sản xuất, trong đời sống, nhất là những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Không những vậy, cây lúa còn mang một giá trị văn hoá tinh thần sâu sắc cho người nông dân Việt Nam.4 Sự cần thiết để phát triển cây lúa - Để phát triển được nền văn minh lúa nước của người dân Việt Nam thì bên cạnh những lợi thế về tiềm nằng trong sản xuất và phát triển sản xuất lúa gạo để xuất khẩu, thì sự cần thiết để phát triển cây lúa còn phải qui tụ vào những nhân tố sau: Tích lũy vốn cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Mục tiêu chủ yếu sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướ.
Do vậy đẩy mạnh xuất khẩu nói chung là đòi hỏi tăng ngoại tệ, giải quyết vốn cho công nghiệp hóa. Trước tình hình đó lúa gạo đã vươn lên giữ vị trí mặt hàng xuất khẩu lớn của nước ta. Trong suốt 13 năm qua (1991-2003) riêng kim gạch xuất khẩu gạo đã đạt trên 8 tỷ USD. Con số đó đã nói rõ sự cần thiết của việc sản xuất lúa gạo đối với công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước.
8 Ngoài ra hướng đã đặt ra 3 chương trình kinh tế - chương trình lương thực thực phẩm, chương trình xuất khẩu, chương trình hàng tiêu dùng được đề ra tại đại hội 6 phải có sựu kết hợp chặt chẽ nhằm hướng công nghiệp hóa, nông nghiệp phát triển, đời sống người dân được nâng cao trước hết là về ăn uống. Đây là chiến lược nhằm phát triển và hoàn thiện con người xã hội chủ nghĩa. Cải thiện đời sống giải quyết việc làm cho nhân dân - Đối với mỗi quốc gia, việc phát triển nguồn nhân lực là nội dung lớn thuộc chiến lược phát triển con người. Dân số nước ta với 80% dân số tập trung ở nông thôn phần lớn sinh sống bằng lúa gạo và trồng cây lương thực.
Trong đó, đời sống ở nông thôn và thành thị có sự chênh lệch đáng kể. Đời sống người nông dân còn thấp về mức thu nhập bình quân đầu người, điều kiện vật chất, CSHT. Với tình trạng đó thì việc phát triển lúa gạo và xuất khẩu gạo để nâng cao thu nhập cho người dân, xây dựng nông thôn ngày giàu mạnh là điều rất cần thiết. Phát huy lợi thế trong nước - Sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam có những lợi thế như: đất đai, khí hậu, nước tưới tiêu, vị trí địa lý.
Một chiến lược đúng đắn nhất là khai thác triệt để nhất các lợi thế. Chính những lợi thế đó đã làm cho sản lượng lúa tăng đều đặn trong những năm qua. Qua đó ta thấy được sự cần thiết phải xuất khẩu gạo cũng như tính đúng đắn của định hướng xuất khẩu lúa gạo là vấn đề thiết yếu.2 Cơ sở thực tiễn 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới năm 2017 -Tháng 2/2017chỉ số giá lương thực FAO trung bình đạt 253 điểm trong tháng 2 đầu năm 2017 tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái. - Xét theo quốc gia giá gạo năm nay giảm nhẹ.
Như sản lượng của Mỹ dự báo sẽ giảm 10% xuống 6,4 triệu tấn, tại Ai Cập sản lượng dự báo sẽ giảm 9 do việc hạn chế sử dụng nước.