Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 1. Khái quát chung về sản xuất hàng hoá Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường.
Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, để loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội [9]. Sản xuất hàng hoá khác với kinh tế tự cấp tự túc, do sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã xoá bỏ tính bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất. Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ cả hai điều kiện là có sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất: - Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó là chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau.
Do phân công lao đông nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định. Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau. - Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở 5 hữu sản phẩm lao động.
Như vậy, chính sự quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khá phải thông qua sự mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa. Sản suất hàng hóa có các đặc trưng và tư thế như sau: - Do mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thỏa mãn nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. - Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở” của các quan hệ hàng hóa tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
Các giai đoạn phát triển nông nghiệp Nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi; nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và ngư nghiệp. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, chủ yếu trong suốt một thời gian dài của lịch sử của xã hội loài người, là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và cho đến nay sản phẩm của nông nghiệp vẫn chưa có một ngành sản xuất nào thay thế được. Vào thế kỷ XXI, nông nghiệp vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng và đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững và giảm nghèo. Nông nghiệp đóng góp vào sự 6 phát triển theo nhiều cách: Nông nghiệp đóng góp vào sự phát triển như một hoạt động kinh tế, một sinh kế và một nơi cung cấp các dịch vụ môi trường, điều này làm nó trở thành một ngành sản xuất có một không hai cho phát triển.
Coi nông nghiệp là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế đối với các nước nông nghiệp đòi hỏi một cuộc cách mạng về năng xuất trong phương thức canh tác hộ gia đình [20]. Theo nhiều nhà kinh tế, quá trình phát triển nông nghiệp có thể chia thành 3 giai đoạn: 1) Nông nghiệp truyền thống. Nét chung của nền nông nghiệp truyền thống là nông dân vẫn canh tác theo phương pháp đã có cách đây hàng thế kỷ. Điều này nói lên rằng người nông dân luôn gắn với phong tục tập quán và họ không có khả năng thay đổi phương pháp trồng trọt để nâng cao sản lượng.
Bên cạnh đó phong tục tập quán luôn được củng cố bằng những giá trị và tín ngưỡng gắn liền với tôn giáo, nên việc thay đổi sẽ trở nên khó khăn hơn. Việc duy trì phương pháp canh tác cũ còn do tính rủi do cao và không ổn định của nông nghiệp. Người nông dân thường không thích chuyên từ cây trồng và công nghệ truyền thống mà trong nhiều năm họ đã sử dụng sang một công nghệ mới với hứa hẹn mức sản lượng cao hơn, nhưng cũng có thể rủi do mất mùa cao hơn. Đối với họ, tránh được một năm mùa màng thất bát quan trọng hơn là nâng cao sản lượng trong những năm được mùa.
Một đặc điểm cơ bản của nông nghiệp truyền thống là sản xuất mang tính tự cung, tự cấp với một hoặc hai cây lương thực chủ yếu như lúa gạo, ngô, khoai, sắn. Sản lượng và năng suất cây trồng thấp, chỉ sử dung các công cụ đơn giản trong sản xuất. Vốn đầu tư rất ít, trong khi đất đai và lao đông là các yếu tố chính của sản xuất. Do đó, quy luật lợi nhuận giảm dần được thể hiện rõ khi phải sử dụng lao động trên đất đai ngày càng cằn cỗi.
Do tính khép kín và độ rủi do cao nên những người nông dân sản xuất nhỏ rất do dự trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới dẫn đến năng suất lao động thấp, khả năng chống đỡ với những biến đổi của điều kiện tự nhiên rất hạn chế. Tuy vậy nông nghiệp truyền thống hoàn toàn không phải là không có tiến triển. Sự tiến triển diễn ra chậm chạp, từ du canh du cư đến định canh ổn định đất 7 trồng trọt và ổn định công nghệ sản xuất thủ công. Để áp dụng phương pháp canh tác mới phải cần thời gian dài, ban đầu là thử nghiệm ở một vài hộ, một vài vụ.
Ví dụ, nếu có phương pháp cày đất sâu hơn hoặc gieo hạt dày hơn làm tăng năng suất cây trồng có thể sẽ có một vài hộ mạo hiểm làm thử, nếu họ có được những cái cày có khả năng cày sâu hơn. Khi những biện pháp này có kết quả, những hộ khác sẽ quan sát và làm theo. Việc tăng sản lượng cũng có thể thực hiện bằng việc tăng diện tích đất canh tác nhờ các dự án thủy nông hoặc sử dụng phân hữu cơ cho cây trồng. 2) Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - đa dạng hóa cây trồng Đa dạng hóa nông nghiệp là bước chuyển đầu tiên trong sự quá độ từ sản xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa.
Trong giai đoạn này cây lương thực cơ bản không còn là sản phẩm chính của nông nghiệp, bởi vì nông dân bắt đầu trồng các loại cây mới để bán như cây công nghiệp, cây ăn quả, rau cùng với việc phát triển chăn nuôi các loại gia súc. Những công việc này làm tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông nghiệp, giảm bớt thời gian nhàn rỗi. Ví dụ, nếu trồng trọt vụ mùa chính chỉ chiếm khoảng một thời gian nào đó trong năm, thì có thể trồng những cây phụ trong khoảng thời gian nhàn rỗi để tận dụng cả lao động và đất đai. Ở những nơi không đủ lao động trong thời vụ cao điểm thì có thể sử dung các máy công cụ nhỏ để tiết kiệm sức lao động (như máy cày, máy tuốt lúa, máy xay sát.) nhằm đảm bảo sức lao động cho các hoạt động khác.
Cuối cùng, việc sử dụng những giống cây trồng mới có thể tăng năng suất cây trồng chính như lúa, ngô để có thể giải phóng một phần đất đai phát triển trồng cây thương phẩm mà vẫn đảm bảo cung cấp lương thực cơ bản. Nhưng điều cần chú ý là những giống mới này chỉ tăng năng suất trong điều kiện kết hợp với việc cung cấp đầy đủ và kịp thời nước, phân bón. Do đó, cần phát triển hệ thống thủy lợi và cung cấp phân hóa học từ công nghiệp. Đặc điểm của việc kết hợp giống mới với nước và phân hóa học là các yếu tố đầu vào này không có khả năng thay thế cao.
8 Như vậy, việc đa dạng hóa cây trồng kết hợp với các biện pháp công nghệ, chủ yếu là công nghệ sinh học làm cho năng suất và sản lượng lương thực gia tăng. Người nông dân có thể bán sản phẩm dư thừa để nâng cao mức tiêu dùng cho gia đình và tăng đầu tư cho sản xuất. Việc đa dạng hóa cây tròng cũng có thể giảm tác động do mất mùa cây trồng chính gây ra và đảm bảo có thu nhập ổn định hơn. Mục đích của người nông dân sản xuất ra sản phẩm không chỉ để phục vụ cho nhu cầu của chính gia đình họ mà còn đưa những sản phẩm dư thừa đem đi trao đổi trên thị trường.
Những sản phẩm trao đổi trên thị trường này được gọi là sản phẩm hàng hoá. Tuy vậy, khối lượng hàng hoá nông sản trao đổi, mua bán giữa những người sản xuất còn ít, thị trường phân tán và chưa có nhiều thông tin, hàng hoá trao đổi chủ yếu diễn ra ở các chợ nhỏ ở nông thôn, việc sản xuất, trao đổi, mua bán nông sản phẩm chưa trở nên thường xuyên.