Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh. Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.
Tổng quan về phát triển tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế 1. Tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) tín dụng, theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là tin tưởng và tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Một quan hệ được xem là quan hệ tín dụng khi nào chứa đựng đầy đủ ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Tín dụng ngân hàng Bùi Diệu Anh và cộng sự (2009) cho rằng tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Kinh tế Kinh tế là những lợi ích có được khi tham gia các hoạt động và những lợi ích này gắn các quan hệ giữa con người với quyền sở hữu của cá nhân. Kinh tế gắn liền với các yếu tố liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng để làm gia tăng lợi ích trong nguồn lực hữu hạn của xã hội (Stroup, 2002). Như vậy, có thể hiểu kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người trong xã hội liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu với một 6 nguồn lực có giới hạn nhất định. Tăng trưởng kinh tế Nguyễn Chí Hải và cộng sự (2019) cho rằng tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là sự gia tăng hay mở rộng quy mô tổng sản phẩm của một nước trong một thời gian nhất định.
Đây là sự gia tăng về lượng của nền kinh tế có thể đo lường bằng các chỉ tiêu tốc độ gia tăng GDP hoặc GDP bình quân đầu người/năm. Cần phân biệt giữa tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và tăng trưởng kinh tế dài hạn, nếu tăng trưởng kinh tế ngắn hạn là sự gia tăng quy mô sản lượng trong thời gian 1 năm trên cơ sở sử dụng đầy đủ các nguồn lực hiện có, thì tăng trưởng kinh tế dài hạn là sự gia tăng hay mở rộng quy mô sản lượng qua các năm, trên cơ sở mở rộng nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế. Đặc điểm và vai trò 1. Đặc điểm Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với những đặc trưng sau: - Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng có thể là tiền, động sản hoặc bất động sản - Thời hạn hoàn trả phải được xác định một cách có cơ sở để đảm bảo rằng bên đi vay sẽ hoàn trả tài sản cho bên cho vay đúng thời hạn đã thỏa thuận.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay có nghĩa rằng bên đi vay phải trả lãi cho bên cho vay. - Tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, có nghĩa là bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Vai trò Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) vai trò của tín dụng là phân phối lại vốn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả tài chính được đặt lên hàng đầu và việc tính toán sử dụng vốn bao giờ cũng gắn 7 liền với chi phí, kể cả chi phí cơ hội.
Một khi vốn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng thì sẽ lãng phí và tốn kém chi phí cơ hội do vốn chưa được sử dụng vào mục tiêu sinh lợi. Khi ấy, vốn cần được đem cho vay hay phân phối lại vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi thiếu hụt vốn. Ngược lại, khi thiếu hụt vốn, cần có sự bổ sung kịp thời nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục hoặc tăng trưởng như hoạch định. Khi ấy, doanh nghiệp cần vay vốn hay điều hòa vốn nhằm đảm bảo vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Nhờ có tín dụng, việc điều hòa hay phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu có thể thực hiện được một cách dễ dàng và nhanh chóng. Như vậy, tín dụng có chức năng phân phối lại vốn và qua đó nó góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Phân loại Theo Nguyễn Minh Kiều (2006) tín dụng có nhiều loại hay nhiều hình thức khác nhau. Việc phân loại tín dụng nhằm hiểu rõ thêm sự khác biệt của từng loại tín dụng và qua đó chúng ta có thể sử dụng hoặc hiểu được tín dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Phân loại tín dụng phải căn cứ vào những tiêu thức cụ thể và khi đề cập đến các loại tín dụng được phân loại là ám chỉ tín dụng theo tiêu thức phân loại đó. Dựa vào thời hạn tín dụng Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ một đến năm năm.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên năm năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay 8 như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay Cho vay theo món vay: Theo đó ngân hàng xem xét, quyết định cho vay và khách hàng phải lập hồ sơ vay theo từng món vay. Phương thức cho vay này áp dụng đối với những khách hàng nào không có nhu cầu vay vốn thường xuyên và tốc độ quay vòng của vốn tương đối chậm. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Theo đó ngân hàng xem xét, quyết định cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định.
Khách hàng chỉ cần lập hồ sơ xin vay vào đầu kỳ kế hoạch còn trong kỳ, mỗi khi phát sinh nhu cầu vay trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp, không cần phải lập hồ sơ mà chỉ cần lập các chứng từ chứng minh nhu cầu vốn vay để ngân hàng xem xét giải ngân. Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
Dựa vào ngành nghề kinh doanh Cho vay các mục đích sử dụng vốn khác nhau thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, xây dựng,… Ngân hàng cần phân bổ vốn vay theo cơ cấu ngành nghề kinh tế trọng điểm, cũng như phù hợp thế mạnh của từng địa phương, nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng trong từng thời kỳ. Cơ sở lý thuyết về phát triển tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế 1. Các lý thuyết nền tảng 1. Lý thuyết về vốn và tín dụng Schumpeter (1934) cho rằng vốn và tín dụng có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế bằng cách thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới, mở rộng quy mô hoạt 9 động, tạo động lực tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư và tạo thu nhập.
Sự tương tác giữa vốn và tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh và tài chính thuận lợi, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Romer (1994) cho rằng tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như tài nguyên tự nhiên, mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo ra tri thức mới và đổi mới trong quá trình sản xuất. Theo lý thuyết này, tri thức có thể được coi là một nguồn tài nguyên không giới hạn và có thể nhân rộng. Với lý thuyết tăng trưởng nội sinh, sự đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ được coi là động lực chính của tăng trưởng kinh tế.
Việc thúc đẩy đổi mới và sáng tạo trong quá trình sản xuất được xem là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Sự đổi mới có thể xuất hiện thông qua việc áp dụng tri thức mới vào quy trình sản xuất, sử dụng công nghệ tiên tiến, hoặc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cũng nhấn mạnh vai trò của chính sách công và các yếu tố hợp tác xã trong việc thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng kinh tế. Việc tạo ra môi trường thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích đầu tư vào giáo dục và đào tạo được coi là quan trọng để khuyến khích sự đổi mới và tăng trưởng.
Các nghiên cứu trước có liên quan Các nghiên cứu trước đây đã tập trung vào mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và tăng trưởng kinh tế. Các kết quả cho thấy rằng tín dụng ngân hàng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, nhưng tác động này có sự khác biệt tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng tăng hoạt động tín dụng có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn.