CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC, ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN LÀNH NGHỀ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHU CÔNG NGHIỆP. Lý luận chung về nhân lực và đào tạo công nhân lành nghề: 1. Một số khái niệm, danh từ, thuật ngữ cơ bản thường gặp. Nhân lực (người lao động), người thợ và thợ lành nghề: [16,9] Trong sản xuất có 3 yếu tố cơ bản: Công cụ lao động, đối tượng lao động và người lao động.
Trong các yếu tố này thì người lao động là cơ bản nhất. Người lao động sản xuất bao gồm: Các nhà nghiên cứu, kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên và người thợ. Người thợ biến các ý đồ của kỹ sư, kỹ thuật viên thành hiện thực. Thiếu kỹ sư, kỹ thuật viên sẽ không có kỹ thuật hiện đại, nhưng nếu không có công nhân thì không có sản xuất.
Trong sản xuất hiện nay chúng ta cần 2 loại thợ: "Công nhân kỹ thuật" - Là loại thợ chuyên sản xuất ra hàng loạt hoặc làm các công việc đơn giản không đòi hỏi tình độ lành nghề cao lắm, thời gian đào tạo tương đối ngắn đã có thể làm ra sản phẩm đơn giản. "Công nhân lành nghề " - Là loại thợ giữ vị trí quyết định trong nhiều mặt của sản xuất như điều khiển, sửa chữa các máy móc tinh vi phức tạp về điện, điện tử, quang học, cơ khí, chế tạo khuôn, đồ gá, dụng cụ, vv… Họ có trình độ nghề nghiệp tinh thông, có đủ kinh nghiệm để giải quyết được khó khăn mắc mứu trong phạm vi nghề và dìu dắt thợ mới. Số lượng thợ này thường không nhiều nhưng không thể thiếu trong sản xuất. Tuy nhiên muốn đạt đến trình độ lành nghề phải có quá trình rèn luyện một thời gian dài.
Nghề nghiệp, ngành sản xuất và chuyên môn:[16,56] Nghề nghiệp là một hình thức hoạt động nhất định, đòi hỏi một số lý thuyết chuyên môn đặc biệt và các kỹ năng, kỹ xảo thực tế để thực hiện các kiến thức lý thuyết đó. Nghề nghiệp biểu thị bằng sự phân công lao động, các công việc được thực hiện và phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm chế tạo , các điều kiện lao động của một ngành sản xuất nhất định. 7 Việc phân chia các ngành sản xuất, phụ thuộc vào 3 yếu tố: - Công cụ và phương tiện lao động. - Tính chất của đối tượng lao động.
- Tổ chức quá trình sản xuất. Căn cứ vào các yếu tố trên, người ta phân chia ra các ngành nghề cơ khí, xây đựng, mỏ, dệt, hóa chất, vận tải, vv.Như vậy danh từ ngành có nội dung chung, trong ngành có nhiều nghề khác nhau như: ngành cơ khí có các nghề: tiện, nguội, phay, bào, mài, vv. Chuyên môn được coi là một môi trường hoạt động nghề nghiệp có hạn chê và công nhân của lĩnh vực hoại động này chỉ sử dụng mội số công cụ nhất định, thực hiện những chức năng nhất định của quá tình sản xuất. Ví dụ trong nghề nguội có những chuyên môn như: nguội dụng cụ, nguội sửa chữa máy, nguội đồ gá, nguội lắp ráp, nguội lắp đặt đường ống, nguội sửa chữa ô tô, vv.
Như vậy cũng là nghề nguội nhưng chuyên môn thì khác nhau.Trình độ nghề nghiệp của công nhân Là các kiến thức, năng lực về một chuyên môn nhất định, có phối hợp với các điều kiện tổ chức và kỹ thuật cụ thể để tiến hành quá trình lao động. Trình độ nghề nghiệp được xác định bởi 3 yếu tố: Kiến thức, kỹ xảo và kỹ năng lao động.[16,57] - Kiến thức là hệ thống các tri thức bao gồm những khái quát lý luận như thuật ngữ, khái niệm, cổng thức, quy luật, tư tưởng học thuyết khoa học, những lý luận khoa học và kỹ thuật liên quan đến nghề nghiệp, nó có thể định hướng ứng dụng một cách nhanh chóng, phù hợp với các tình huống nghề nghiệp. Khối lượng kiến thức của người thợ được xác định bởi trình độ hiểu biết tổng hợp về kỹ thuật cơ bản của nghề, về khoa học kỹ thuật, về trình độ văn hóa phổ thông và một phần hiểu biết về kinh tế và quản lý sản xuất. - Kỹ xảo lao động là hành động có ý thức mà từng động tác riêng biệt của nó đã trở thành tự động hóa do được luyện tập.
Có 3 loại kỹ xảo chính là: Kỹ xảo vận động, kỹ xảo nhận biết, kỹ xảo định hướng. Ở kỹ xảo vận động (kỹ xảo cơ giới) người ta chú ý tự động hoá những thành 8 phần di chuyển, cầm nắm nhất định. Các kỹ xảo định hướng (kỹ xảo trí óc) là những hành động bộ phận đã được tự động hoa tạo khả năng định hướng nhanh chóng, thành thạo và chính xác để tiến hành những tính toán trong hành động như: Chọn đúng công cụ cần thiết, nhận ra các nguyên nhân sai sót, xác định hợp lý tiến trình công việc, tổ chức lao động thích hợp, kiểm tra vật liệu sản phẩm, vv. Các kỹ xảo nhận biết (kỹ xảo cảm giác) là tự động hóa chính xác hoạt động của các giác quan, tạo khả năng cho người thợ tác động có hiệu qủa đến kết qua lao động và có những biện pháp cần thiết để thực hiện công việc tiện lợi mà không gặp những khổ khăn đặc biệt, tốn ít thời gian như: Xác định nhanh chóng các số đo trên dụng cụ đo lường, chỉ cần nghe tiếng động cơ đã hiểu được tình trạng của máy, vv.
- Kỹ năng lao động là năng lực của người thợ biết sử dụng một cách tự giác, có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo đã có vào điều kiện khác nhau trong sản xuất. Kỹ năng tưởng tượng, thiết kế, sáng tạo giúp cho công nhân khi đọc bản vẽ có thể hình dung nhanh chóng cái máy, chi tiết hoặc phôi liệu thực tế sẽ như thế nào; kỹ năng quan sát, ghi nhớ, phân tích phê phán,vv.tạo điều kiện để công nhân giải quyết thành công các nhiệm vụ sản xuất. Trình độ nghề nghiệp của người công nhân thông thường được xác định bởi tiêu chuẩn kỹ thuật và được biểu hiện bằng bậc thợ của họ.4 Công nhân lành nghề: Không phải cứ công nhân làm việc lâu năm là coi như lành nghề, còn công nhân mới thì không phải là lành nghề. Định nghĩa có tính chất nguyên tắc của Mác về lao động lành nghề là lao động giản đơn đem lũy thừa lên số mũ n lần.
Nhiều người làm công lác nghiên cứu và dạy nghề cho rằng: Công nhân lành nghề là những người được đào tạo có kiến thức rộng và thành thạo một nghề trong mội lĩnh vực nhất định. Họ có trình độ kỹ thuật chung rộng, không bị giới hạn bởi một nghề chuyên môn hẹp nào, có khả năng làm việc ở bất kỳ một xí nghiệp nào trong cùng ngành. Người công nhân lành nghề có những kinh nghiệm nhanh chóng giải quyết khó khăn trong sản xuất, thích ứng những yêu cầu mới của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất. Yêu cầu cơ bản đối với người công nhân lành nghề là: [15,236] 9 - về chính trị, tư tưởng: Kiên định giữ vững nền độc lập dân tộc, yêu quê hương, giác ngộ giai cáp, phấn đâu cho lý tưởng XHCN.
Có tinh thần công dân và giàu lòng nhân nghĩa. Có nếp sống lao động văn minh, sáng tạo, thích nghi và có hiệu qua để làm giàu cho mình và cho doanh nghiệp. - Về học vấn: Có trình độ tương đương phổ thông trung học toàn phần. - Về nghề nghiệp: Có kiến thức chuyên môn hoàn chỉnh, tay nghề diện rộng và chuyên sâu một nghề, hiểu biết quản lý kinh tế - công nghệ nhất định để tham gia nhiều mặt vào quá trình sản xuất và làm chủ được kỹ thuật - công nghệ hiện đại, say mê nghề nghiệp và có sức khỏe tốt.
Theo nghị quyết của 2 tổ chức quốc tế là: MOT (Tổ chức lao động Quốc tế) và UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Quốc tế) thì việc dạy nghề không thông qua trường dạy nghề chính quy chỉ gọi là dạy nghề đơn thuần, còn đào tạo công nhân lành nghề thông qua các trường dạy nghề chính qui gọi là giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp. Theo nghị quyết này thì giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp phải tiến xa hơn dạy nghề đơn giản, có nghĩa là không những ừuyền thụ cho học sinh nắm vững tay nghề và kiến thức lý thuyết mà còn đảm bảo cho họ đạt trình độ văn hoá phổ thông trung học toàn phần. Ý nghĩa kinh tế- xã hội của nguồn nhân lực và công tác dạy nghề. Về nguồn nhân lực: "Quá trình phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hóa làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh", đòi hỏi: Thứ nhất, tăng mức tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người.
Thứ hai là sự phát triển người. Những nghiên cứu trên thế giới gần đây cho thấy chỉ có một phần nhỏ sự tăng trưởng kinh tế có thể được giải thích bởi yếu tố đầu vào là nguồn vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật. Phần rất quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất lượng lực lượng lao động - trình độ giáo dục, sức khỏe và mức sống. Yếu tố cốt lối của hệ thống sản xuất hiện đại là thông tin và tri thức.
Trí tuệ trở thành động lực phát triển tiến bộ xã hội. Khoa học và công nghệ là nền tảng tạo ra bước tăng trưởng kinh tế - xã hội mới, khác biệt về chất lượng so với trước đây. Như vậy, quan điểm phát triển kinh tế - xã hội lấy con người là trung tâm là yêu cầu 10 khách quan của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư cho con người là đầu tư cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong phạm vi một quốc gia hay một đơn vị sản xuất, nguồn nhân lực - vốn người - có ý nghĩa quyết định trực tiếp thúc đẩy tiến bộ. Garry Becker người Mỹ dược giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992 khẳng định: " Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục".
Lịch sử các nền kinh tế trên thế giới cho thấy không có một nước giàu nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao trước khi đạt mức phổ cập giáo dục phổ thông. Muốn thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh phải tăng hiệu qua giáo dục để nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát hiện bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài.