CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về thu hút các nguồn vốn đâu tư vào các khu công nghiệp 1. Khái niệm về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp Theo Luật đầu tư (2014), “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Trong đó, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (Quốc Hội, 2014).
Trong nền kinh tế thị trường, để thực hiện các hoạt động kinh doanh, chủ sở hữu phải bỏ ra một lượng vốn tiền tệ nhất định để hình thành nên các dạng tài sản cần thiết (tài sản cố định, tài sản lưu động) thực hiện các hoạt động kinh doanh. Số vốn bỏ ra ban đầu đó gọi là vốn kinh doanh hay đôi khi gọi là vốn đầu tư. Trên phương diện toàn xã hội, vốn đầu tư chính là lượng giá trị của cải xã hội tích lũy được của các chủ thể trong xã hội được sử dụng vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra giá trị của cải mới trong tương lai. Nguồn vốn đầu tư chính là phần giá trị tài sản tích lũy dưới hình thái giá trị được đầu tư cho nhu cầu phát triển.
Đây là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các nguồn lực tài chính tập trung và phân phối cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thực tiễn chỉ ra rằng, không phải lúc nào các doanh nghiệp, địa phương cũng đủ nguồn lực để thực hiện đầu tư. Do đó, các doanh nghiệp, địa phương phải tìm cách huy động nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp, cũng như của địa phương. Hoạt động thu hút vốn đầu tư trở thành nhu cầu, đòi hỏi bức thiết cho các chủ thể thực hiện kinh doanh.
“Thu hút vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường,. để thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn, khoa học kỹ thuật,. để sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Thu hút vốn đầu tư là những hoạt động, những chính sách của chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư để 5 nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư thực hiện mục đích đầu tư phát triển.
Thực chất của thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư để từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu tư vào địa phương hoặc ngành” (Nguyễn Xuân Thủy, 2010) Theo quan điểm của tác giả: “Thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp là những hoạt động, chính sách của chính quyền địa phương, và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào các khu công nghiệp nhằm thực hiện mục đích đầu tư phát triển”. Phân loại nguồn vốn đầu tư Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trong nước * Nguồn vốn nhà nước. Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn VĐT phát triển của DNNN.
Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Nguồn vốn quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương là nguồn vốn từ NSNN. Bằng nguồn vốn này, các địa phương sử dụng đầu tư cho các dự án về kết cấu hạ tầng, quốc phòng, an ninh, phối hợp cùng các doanh nghiệp cùng đầu tư. Ngoài ra, được sử dụng chi cho công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Trong chiến lược phát triển KTXH, Nhà nước là chủ thể rất quan trọng trong việc cung ứng nguồn vốn tín dụng phát triển.
Cách thức tài trợ của Nhà nước thay đổi, từ phương thức cấp trực tiếp chuyển sang cấp gián tiếp thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển cho doanh nghiệp, chủ thể trong nền kinh tế. Qua đó, có tác động làm giảm bao cấp vốn trực tiếp từ Nhà nước. Việc cung ứng và quản lý nguồn vốn theo cơ chế quản lý tín dụng, tức là các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Điều này đòi hỏi chủ thể sử dụng vốn phải tính toán cẩn trọng trong sử dụng vốn, đảm bảo nguồn vốn sử dụng đúng, đem lại hiệu quả, tiết kiệm.
6 Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, bởi vì một khối lượng lớn tài sản và nguồn vốn của xã hội nằm trong sự quản lý của doanh nghiệp nhà nước. Trong thực tiễn hoạt động, mặc dù còn tồn tại những hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn trong khu vực kinh tế nhà nước nhưng đây vẫn là chủ thể, khu vực giữ vị trí quan trọng của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục có những cải cách trong công tác quản lý, phân cấp trong sử dụng vốn sẽ có sự đóng góp lớn hơn, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn vào hoạt động đầu tư của cả nước, tăng tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.” (Nguyễn Xuân Thủy, 2010) * Nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Các nguồn vốn thuộc khu vực tư nhân rất đa dạng như nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư, lợi nhuận tích lũy của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã… Một nguồn lực rất lớn đang trong dân cư với ước định chiếm 80% tài sản, nguồn vốn của hệ thống các ngân hàng thương mại hiện nay, tồn tại dưới dạng vàng, bạc, ngoại tệ.
Để huy động nguồn vốn này đòi hỏi có chính sách huy động phù hợp và phụ thuộc vào thu nhập và tiêu dùng của các hộ gia đình. - Thị trường vốn. Khi nền kinh tế phát triển, thị trường vốn là nơi cung cấp vốn trung và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế. Thông qua thị trường chứng khoán, các nguồn vốn nhỏ lẻ, với quy mô khác nhau, thời gian khác nhau sẽ được tập hợp lại thành nguồn vốn có quy mô lớn, thời gian sử dụng đa dạng tài trợ cho nhu cầu vốn đa dạng của các doanh nghiệp, tổ chức và chính quyền.
Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được. Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Trên phạm vi rộng, qua quá trình luôn chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hình thành. “Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan 7 tâm. Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau” (Bùi Tiến Hanh & Phạm Thanh Hà, 2015). Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính gồm có nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức, nguồn tín dụng từ các NHTM, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
* Nguồn vốn ODA. Nguồn vốn do các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài tài trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng KTXH được gọi là ODA. Đây là nguồn vốn có sự ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay và một phần không hoàn lại. Tuy nhiên, đi kèm với nguồn vốn này là những ràng buộc chặt chẽ về đối tượng và mục đích sử dụng.
Vì vậy, xét trên tổng thể, khi nhận nguồn vốn này cần xem xét giữa lợi ích đạt được cao nhất với chi phí bỏ ra là ít nhất. Khi tiếp nhận nguồn vốn ODA mà sử dụng không hiệu quả cũng có thể tạo ra gánh nặng nợ cho nền kinh tế.“ * Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại. Nguồn vốn tín dụng từ NHTM có điều kiện ưu đãi thấp hơn nguồn vốn ODA. Nhưng ưu điểm của nó là không gắn liền với các ràng buộc về chính trị, xã hội.
Tuy nhiên, sự khắt khe về thủ tục vay vốn, thời gian trả nợ, lãi suất sử dụng vốn cao là những rào cản của dòng vốn này đối với các nước thu nhập thấp. Để được quyền sử dụng nguồn vốn tín dụng của NHTM, người vay phải chịu lãi suất vay cao, do đó đòi hỏi sự thận trọng trong vay nợ và sử dụng nguồn vốn vay. Trong nền kinh tế thị trường, khi nền kinh tế tăng trưởng thì nhu cầu vốn tín dụng từ NHTM cũng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh. * Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Việc tiếp nhận nguồn vốn FDI không tạo ra gánh nặng nợ cho nước tiếp nhận.
Nước tiếp nhận FDI không phải trả lãi, và nợ gốc. Nhà đầu tư FDI nhận được là từ lợi nhuận tạo ra khi thực hiện đầu tư.“Đi kèm với dòng vốn FDI là vốn, nhân lực, công nghệ, máy móc vào nước tiếp nhận và thúc đẩy sự phát triển sản xuất các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm của các ngành đòi hỏi trình độ khoa học kỹ 8 thuật cao, cần nhiều vốn. Đây là nguồn vốn có vai trò quan trong trong quá trình CNH, HĐH và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các nước tiếp nhận đầu tư. * Thị trường vốn quốc tế.
Trong xu hướng toàn cầu hóa, mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng có nhiều sự gắn kết, luồn luân chuyển vốn và tài sản giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn. Do đó, đặt ra nhu cầu huy động vốn trên bình diện quốc tế, liên khu vực. Thị trường vốn quốc tế được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất của mỗi quốc gia.