Chương 1: Vai trò của các khu công nghiê ̣p trong quá trin ̀ h phát triể n kinh tế Chương 2: Thực trạng phát triển các KCN tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 -2006. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển các KCN tỉnh Thái Bình đến 2015. 5 CHƢƠNG I: VAI TRÕ CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP.
KCN và phát triển KCN. Khái niệm Khu công nghiệp. Khu công nghiệp (KCN) đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. KCN đầu tiên được thành lập ở Anh và vùng Công nghiệp Clearing Chicago (Mỹ) năm 1940; Ý thành lập KCN tại Napoli.
Kể từ đó trở đi, số lượng KCN được hình thành trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt là ở tại các nước đang phát triển của Châu Á. Hiện nay, trên thế giới có hàng chục nghìn KCN. Theo số liệu của Hội đồng nghiên cứu phát triển quốc tế (IDRC), hiện có khoảng 12.600 KCN rải rác ở 90 quốc gia: 8.200 ở Canada, 300 ở Đức, 200 ở Anh, 130 ở Hà Lan. Mặc dù phát triển sau nhưng các nước Châu Á cũng có số lượng KCN đáng kể.
Số liệu cho thấy Malaixia dẫn đầu với con số 166 KCN, tiếp theo là Hàn Quốc với 147 KCN, Indonexia với 177 KCN, Nhật Bản với 95 KCN,… Tuy đã phát triển một thời gian khá dài nhưng những khái niệm về KCN vẫn được bàn cãi và chưa có kết luận thống nhất. Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài , chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hóa hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề. Một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất (KCX). Khu chế xuất là khu có một hoặc nhiều doanh nghiệp đăng ký chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được rào cách với khu vực hải quan.
Ở Philippin, theo luật các khu kinh tế đặc biệt 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một quy 6 hoạch toàn diện dưới sự quản lý liên tục thống nhất và với các quy định đối với chính sách hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác; có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN”. Tại “Sắc lệnh Tổng thống Cộng hòa Indonexia số 98/1993” định nghĩa: KCN là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý. Ở đây, “công ty KCN” là các công ty có tư cách pháp nhân được thành lập theo luật của Indonexia và ở trên lãnh thổ Indonexia với chức năng quản lý KCN. Ở Thái Lan, đạo luật cục KCN năm 1979 định nghĩa: KCN là diện tích được dùng vào sản xuất công nghiệp hoặc các công việc khác có lợi hoặc liên quan đến sản xuất sản phẩm công nghiệp nhằm xuất khẩu.
Khái niệm về KCN ở Việt Nam: Theo quy chế KCN, KCX, Khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ có đưa ra định nghĩa về KCN, KCX, KCNC như sau: - “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCN có doanh nghiệp chế xuất.” - “KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp chế xuất thực hiện các nghĩa vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập.” - “KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học công nghệ; đào tạo và các dịch vụ có liên quan; có ranh giới địa lý xác định; không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất.” 7 Qua đó ta thấy 3 khái niệm về KCN, KCX, KCNC trong Nghị định 36/CP có liên quan đến nhau, trong đó khái niệm về KCN là chủ đạo và phổ biến; còn hai khái niệm kia là sự phát triển với những đặc trưng riêng.
Từ việc nghiên cứu những khái niệm trên, tác giả rút ra quan niệm về KCN cụ thể như sau: KCN là một tổ chức không gian kinh tế xã hội rộng lớn và được xác định giới hạn nhất định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế xã hội) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp. Đây sẽ là quan điểm về KCN mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn. Đặc điểm Khu công nghiệp. KCN và KCX là công cụ để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để tạo ra năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của thị trường trong nước và quốc tế.
Với cơ cấu được hình thành trên cơ sở kỹ thuạt và công nghệ tiên tiến, KCN và KCX bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau: KCN có cơ sở kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ ưu đãi về thủ tục xin và thuê đất; miễn hoặc giảm thuế. Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường. Bởi vậy, cơ chế quản lý trong KCN lấy điều tiết thị trường làm chính. KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một vương quốc độc lập như KCX.
Do vậy, các chế độ quản lý hành chính, các quyết định liên quan đến việc ra vào KCN và quan hệ với các doanh nghiệp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn. 8 Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo điều kiện bình đẳng. KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn trong nước. Việc hình thành các KCN tạo nên sự thay đổi một cách căn bản về hạ tầng kinh tế - xã hội trong và ngoài KCN, là cơ sở hạ tầng đô thị công nghiệp và thành phố công nghiệp trong tương lai.
Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội góp phần tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội cho khu vực có KCN. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu trong KCN là những doanh nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước (CNH-HĐH). Phân loại KCN Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận để phân loại KCN, nhưng việc phân loại KCN chủ yếu để phục vụ công tác nghiên cứu và thực thi các chính sách ưu tiên, ưu đãi là chính; còn trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, tổ chức đời sống xã hội, xây dựng cấu trúc hạ tầng cơ sở, cơ cấu ngành nghề thì việc phân loại chưa có tác động riêng biệt. Theo tính chất ngành nghề thì KCN chia thành bốn loại: KCN chuyên ngành: Được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một ngành hoặc một số ít ngành khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hóa chất - hóa dầu, điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (ở Việt Nam có hóa chất Việt Trì, lọc dầu Dung Quất…) KCN đa ngành: Gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành nghề công nghiệp khác nhau.
KCN đa ngành cho phép thỏa mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quá trình quy hoạch cần lưu ý đến vấn đề môi 9 trường nhằm hạn chế tác động ảnh hưởng xấu giữa các doanh nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ tầng. KCN sinh thái: Là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững.Với mô hình này, những sản phẩm hoặc phế phẩm của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia. KCN hỗn hợp: Là KCN có đầy đủ yếu tố của KCN đa ngành, trong đó chia ra các khu vực chuyên ngành, khu công nghệ cao, có tổ chức dịch vụ (nhà ở, bệnh viện, trường học…) đảm bảo đời sống của người lao động trong KCN.
Theo đặc điểm quản lý: Có ba loại khu công nghiệp: KCN tập trung: Là KCN có thể đa ngành, chuyên ngành hoặc là những KCN có quy mô và diện tích khác nhau được hình thành với các điều kiện khác nhau. KCN chế xuất (KCX): Là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập hoặc cấp phép thành lập. Khu công nghệ cao: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ phát triển công nghệ cao bao gồm: nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ, đào tạo các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất.