CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THU HUT VON DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUAT VE KHU CÔNG NGHIỆP VA THU HUT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu công nghiệp 1. Khái nệm khu công nghiệp Có nhiều quan niệm khác nhau về KCN.
Các quan niệm này được xây dựng để thực hiện các mục tiêu nhất định như phát triển các KCN, quản lý nhà nước về KCN hoặc khai thác tác động của KCN đến việc chuyên dịch cơ cấu kinh tế. Theo Luật Đầu tư 2005 định nghĩa: "Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”. Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được hiểu là: "Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dan cu sinh sống ; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thê có doanh nghiệp chế xuất". Trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyên dich từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, quan niệm về KCN được mở rộng.
Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh băng các quy định pháp lý trong nước mà còn bằng cả các quy định pháp lý quốc tế đặc biệt là những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các KCN và khu chế xuất với những ưu đãi không được trái với các nguyên tắc điều chỉnh của WTO. Qua các khái niệm được quy định trong luật và từ thực tế hình thành các KCN trong những năm trước đây ta có thé hiểu: KCN là một vùng lãnh thé xác định, được phát triển có hệ thống, theo một kế hoạch tổng thé, nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp với hệ thống kết cầu hạ tầng, tiện ích công cộng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển ở mức độ khác nhau, được hưởng chính sách và cơ chế quản lý thích hợp tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cũng như mức độ hội nhập của quốc gia đó. Các đặc điểm cơ bản của khu công nghiệp Đặc điểm của KCN được xem xét đưới các khía cạnh như sau: Về mặt pháp lý: KCN tập trung là một phan lãnh thé của nước sở tại, các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp tập trung chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại.
Ví dụ, các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN tập trung ở Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, trong đó bao gồm: Qui chế về KCN & KCX, Luật đầu tu , Luật lao động. Về mặt kinh tế: KCN tập trung là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp. Huy động được các nguồn lực của nước sở tại, của nhà đầu tư nước ngoài đóng góp vào việc phát triển cơ cầu vùng và các ngành công nghiệp ưu tiên theo mục tiêu của nước sở tại. Việc phát triển kinh tế của KCN tập trung thuận lợi hơn so với các khu vực khác của đất nước, bởi lẽ các KCN được áp dụng quy chế và các thủ tục thông thoáng, hấp dẫn hơn các khu vực khác (trừ KCX), chăng hạn như: thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ; được hưởng khuyến khích tài chính, dam bảo an ninh, an toàn xã hội.đồng thời có cơ sở hạ tầng phát triển hiện đại hơn 1.
Phân loai/cac loại hình khu công nghiệp Tại Việt Nam, các loại hình khu công nghiệp được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Về cơ bản có 04 loại khu công nghiệp sau đây: a) Khu liên hợp công nghiệp Khu liên hợp công nghiệp là các xí nghiệp công nghiệp trong khu công nghiệp dạng này được tô chức hình thức liên hiệp hóa dây chuyền công nghệ. Có thé hiểu thông qua ví dụ điển hình: Khu vực công nghiệp tập trung các xí nghiệp, nhà máy lớn về hóa chất cơ bản, các nhà máy lọc dầu, hóa dầu và các liên hợp về năng lượng, sửa chữa cùng các công trình kỹ thuật phục vụ sản xuất. là một mô hình khu công nghiệp liên hợp.
b) Khu chế xuất Khu chế xuất là một dạng khu công nghiệp đặc biệt chỉ dành riêng cho việc sản xuất, chế biến những sản pham dé xuất khâu ra nước ngoài hoặc dành cho các loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ liên quan đến hoạt động xuất - nhập khẩu tại khu vực đó với các ưu đãi về các mức thuế xuất - nhập khẩu hay các ưu đãi về giá cả thuê mướn mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập cũng như cắt giảm tối thiểu các thủ tục hành chính. 4 Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Việc thành lập các khu chế xuất nhằm dé nâng cao kim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát, bù đắp bớt một phần thâm hụt trong cán cân thanh toán. Khu chế xuất có vị trí, ranh giới được xác định từ trước, có các cơ sở hạ tang nhu điện, nước, đường giao thông nội khu sẵn có và không có dân cư sinh sống.
Điều hành, quản lý hoạt động chung của khu chế xuất thường do một Ban quản lý khu chế xuất điều hành. c) Khu công nghiệp hỗn hợp nhiều ngành Đây là khu vực tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp có đặc tính sản xuất khác nhau nhưng không gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau. Tuy nhiên, ban quản lý khu công nghiệp hỗn hợp nhiều ngành, đất khu công nghiệp phải có sự bố trí làm sao cho các ngành có tính chất gần nhau bồ trí thành nhóm dé đảm bảo hợp tác chặt chẽ với nhau trong sản xuất. d) Khu công nghiệp tong hợp chuyên ngành Ngay ở tên gọi đã thé hiện được tinh chất của loại hình này.
Khu công nghiệp tổng hợp chuyên ngành tập hợp các xí nghiệp thuộc một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp sản xuất cùng một loại sản pham. Trong đó, ưu tiên phát triển khả năng liên hợp sản xuất giữa các xí nghiệp, sử dụng tổng hợp các nguồn nguyên liệu. Tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề, mà các nhóm công nghiệp chuyên ngành thường có trong các ngành sau đây: - Công nghiệp hóa chất và công nghiệp hóa dầu - Công nghiệp cơ khí và thiết bị cơ khí - Công nghiệp xây dựng và vật liệu xây dựng - Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực pham 1. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp 1.
Khái niệm và các đặc điển của đâu tư trực tiếp nước ngoài Quỹ tiền tệ thế giới (IMF - International Monetary Fund) định nghĩa: “Đầu tu trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý có hiệu quả và giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư”. 5 Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp đó băng cách: (1) thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (2) mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (3) tham gia vào một doanh nghiệp mới; (4) cấp tín dụng dài hàn (> 5 năm)”. OECD cũng đưa ra định nghĩa về FDI tương tự như IME. Tuy nhiên, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài.
Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là một pháp nhân hoặc một thé nhân trong đó nhà đầu tư sở hữu ít nhất 10% cé phiếu hoặc có quyên biéu quyết. Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mai và phát triển (UNCTAD - United Nations Conference on Trade and Development) đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thé nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài)”. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO - World Trade Organization): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhập đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài là việc nhà DTNN đưa vào Việt Nam vốn bang tiền hoặc bat kỳ tài sản nào dé tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của Luật này”.
Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài nhằm xác định được tư bản được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Tóm lại, tuy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, các định nghĩa trên đã nhận dạng FDI trên các khía cạnh như sau: Đây là loại hình đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI có bản chất là dòng chu chuyên vốn có thời hạn tương đối dài. Vốn FDI đi liền với công trình, dự án đầu tư ở một địa điểm cụ thé nên nó có tính ôn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thường như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư gián tiếp.
6 Nhà đầu tư nước ngoài là đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn. Nhà đầu tư nước ngoài cần phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI dé được tham gia vào ban điều hành, tuỳ theo Luật Dau tư của mỗi nước quy định.