Khóa luận: Tác động BĐKH đến đầu tư nông nghiệp tư nhân ở Thừa Thiên Huế

Khóa luận kinh tế đầu tư phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động đầu tư nông nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tại Thừa Thiên Huế.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh tế đầu tư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đầu tư nông nghiệp tư nhân trước biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang tạo ra nhiều áp lực lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. Trong đó, ngành nông nghiệp chịu tổn thương nặng nề nhất do phụ thuộc trực tiếp vào thời tiết. Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vị thế nòng cốt trong thu hút nguồn lực phát triển. Khu vực này đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Đầu tư nông nghiệp tư nhân bao gồm hoạt động rót vốn từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ cá thể. Nguồn vốn tư nhân giúp hiện đại hóa chuỗi giá trị nông sản và nâng cao năng suất canh tác. Tuy nhiên, thời tiết cực đoan và thiên tai gia tăng làm gia tăng rủi ro tài chính. Hiện tượng hạn mặn, lũ lụt và bão lũ gây thiệt hại trực tiếp đến tài sản cố định của các cơ sở sản xuất. Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và quyết định đầu tư tư nhân là nhiệm vụ cấp thiết. Hoạt động này đặt nền móng cho chiến lược phát triển nông nghiệp xanh và bền vững trong dài hạn.

1.1. Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp

Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò động lực chính thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Các doanh nghiệp tư nhân đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhóm chủ thể này đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống tưới tiêu và kho bảo quản nông sản. Bên cạnh đó, hộ kinh doanh cá thể tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao thu nhập. Vốn đầu tư tư nhân tạo thêm công ăn việc làm cho lao động địa phương. Nhờ sự linh hoạt, khu vực tư nhân nhanh chóng nắm bắt thị hiếu tiêu dùng và mở rộng thị trường tiêu thụ. Hiệu quả sử dụng vốn của tư nhân góp phần gia tăng giá trị gia tăng toàn ngành.

1.2. Lý thuyết kinh tế về tác động của biến đổi khí hậu

Lý thuyết số nhân đầu tư chỉ ra rằng tăng trưởng sản lượng phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả sử dụng vốn. Khi điều kiện sản xuất ổn định, vốn đầu tư mới sẽ kích thích gia tăng sản lượng nông nghiệp. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu tạo ra những cú sốc ngoại sinh tiêu cực. Hiện tượng nóng lên toàn cầu làm suy giảm năng suất sinh học tự nhiên. Rủi ro khí hậu làm tăng chi phí dự phòng, chi phí bảo hiểm và khấu hao tài sản. Các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt với tỷ suất sinh lời sụt giảm cùng thời gian thu hồi vốn kéo dài. Do đó, lý thuyết kinh tế hiện đại luôn xem xét biến đổi khí hậu như một biến số trọng yếu trong mô hình phân bổ vốn.

II. Phân tích thực trạng đầu tư nông nghiệp tại Thừa Thiên Huế

Tỉnh Thừa Thiên Huế có cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Dù vậy, nông nghiệp vẫn giữ vị trí then chốt trong bảo đảm sinh kế nông thôn. Giai đoạn vừa qua, nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân tại tỉnh có xu hướng tăng trưởng nhanh. Tỷ trọng vốn tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã vượt mức 60%. Toàn tỉnh hiện có 39 doanh nghiệp và 263 hộ kinh doanh chính thức trong lĩnh vực nông nghiệp. Các ngành nghề đầu tư chủ yếu gồm trồng trọt, chăn nuôi, ươm giống lâm nghiệp và chế biến nông sản. Tuy nhiên, địa bàn tỉnh thường xuyên hứng chịu bão lũ, ngập lụt ven đầm phá và hạn hán mùa khô. Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất thiên tai gay gắt. Hiện tượng xâm nhập mặn vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ ảnh hưởng lớn đến nguồn nước tưới. Rủi ro môi trường khiến các nhà đầu tư tư nhân ngần ngại mở rộng quy mô vốn dài hạn. Tình trạng này cản trở quá trình tích tụ ruộng đất và ứng dụng công nghệ cao.

2.1. Thực trạng quy mô dòng vốn tư nhân vào nông nghiệp tỉnh

Quy mô vốn đầu tư tư nhân vào nông nghiệp Thừa Thiên Huế có sự tăng trưởng nhưng chưa thực sự bứt phá. Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp thành lập mới qua các năm biến động thất thường. Đa số cơ sở kinh doanh có quy mô siêu nhỏ và vốn điều lệ khiêm tốn. Các hộ kinh doanh cá thể chiếm số lượng áp đảo với 263 đơn vị trên toàn tỉnh. Hoạt động đầu tư tập trung chủ yếu vào các khâu sơ chế đơn giản và cung ứng vật tư nông nghiệp. Nguồn vốn dài hạn cho hạ tầng chế biến sâu còn rất hạn chế. Tỷ trọng giải ngân vốn tư nhân cho nông nghiệp công nghệ cao còn thấp so với tiềm năng. Điều này phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước rủi ro thiên tai.

2.2. Các biểu hiện cụ thể của biến đổi khí hậu tại địa phương

Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng dần kèm theo những đợt nắng nóng gay gắt. Lượng mưa phân bố không đều, tập trung lớn vào các tháng cuối năm gây ngập lụt cục bộ. Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra phức tạp tại các huyện Phú Vang, Phú Lộc và Quảng Điền. Xâm nhập mặn sâu vào nội đồng làm suy giảm chất lượng đất canh tác lúa và hoa màu. Dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi bùng phát thất thường sau các đợt bão lũ. Những biến đổi sinh thái này trực tiếp phá hủy chu kỳ sản xuất nông nghiệp, làm gia tăng rủi ro kinh doanh của khu vực tư nhân.

III. Giải pháp thúc đẩy đầu tư nông nghiệp tư nhân thích ứng tốt

Để khơi thông dòng vốn tư nhân trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tỉnh Thừa Thiên Huế cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kinh tế. Chính quyền địa phương cần hoàn thiện khung khổ pháp lý và chính sách ưu đãi đầu tư. Việc miễn giảm thuế đất cho các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là bước đi cần thiết. Ngành ngân hàng cần mở rộng gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp nông nghiệp. Cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính thông qua bảo hiểm nông nghiệp cần được cụ thể hóa. Doanh nghiệp tư nhân cần chủ động chuyển đổi mô hình canh tác sang giống cây trồng, vật nuôi chống chịu hạn mặn tốt. Ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước và nhà màng hiện đại giúp giảm thiểu thiệt hại do thời tiết. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp sẽ hình thành chuỗi giá trị nông sản bền vững. Đầu tư vào hệ thống cảnh báo sớm thiên tai cũng đóng vai trò bảo vệ tài sản doanh nghiệp.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng và đất đai

Tỉnh Thừa Thiên Huế cần rà soát quy hoạch đất đai nông nghiệp tạo điều kiện tích tụ ruộng đất quy mô lớn. Thủ tục giao đất và cho thuê đất nông nghiệp cần được tinh gọn, minh bạch. Chính quyền địa phương cần thành lập quỹ hỗ trợ rủi ro thiên tai dành riêng cho khu vực tư nhân. Hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản trên đất nông nghiệp. Việc cấp hạn mức tín dụng ưu đãi cho các dự án xanh sẽ kích thích dòng vốn tư nhân. Ngoài ra, chính sách trợ cấp phí bảo hiểm nông nghiệp giúp giảm áp lực tài chính cho người sản xuất khi thiên tai xảy ra.

3.2. Đổi mới công nghệ canh tác nông nghiệp tuần hoàn

Doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân cần chủ động ứng dụng công nghệ thông minh vào quy trình canh tác. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn giúp tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, tiết kiệm chi phí nguyên liệu đầu vào. Việc lắp đặt cảm biến độ ẩm và hệ thống tưới nhỏ giọt tự động tối ưu hóa nguồn tài nguyên nước tưới. Người nông dân nên chọn lọc các giống lúa chịu mặn và cây ăn quả chịu hạn năng suất cao. Doanh nghiệp cần xây dựng nhà kính cách ly sâu bệnh nhằm đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và thích ứng với biến động thị trường.

IV. Định hướng phát triển nông nghiệp tư nhân Thừa Thiên Huế

Khóa luận tốt nghiệp kinh tế đầu tư làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về nông nghiệp tư nhân Thừa Thiên Huế. Biến đổi khí hậu vừa là thách thức lớn, vừa là động lực thúc đẩy đổi mới phương thức sản xuất. Dòng vốn tư nhân đóng vai trò hạt nhân trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Để thích ứng hiệu quả, địa phương cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp sinh thái. Chính quyền tỉnh tiếp tục giữ vai trò kiến tạo, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng và minh bạch. Doanh nghiệp và hộ kinh doanh cần nâng cao năng lực quản trị rủi ro khí hậu trong từng dự án đầu tư. Sự kết hợp giữa cơ chế chính sách thuận lợi và nguồn lực xã hội hóa sẽ tạo nên sức bật kinh tế mạnh mẽ. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và sinh viên ngành kinh tế đầu tư.

4.1. Khuyến nghị ứng dụng thực tiễn cho chính quyền tỉnh

Chính quyền Thừa Thiên Huế cần hoàn thiện chiến lược hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2025–2030. Địa phương nên ưu tiên bố trí ngân sách xây dựng đê kè chống sạt lở và hồ chứa trữ nước ngọt. Việc tăng cường liên kết vùng duyên hải miền Trung giúp chia sẻ dữ liệu khí tượng thủy văn kịp thời. Cơ quan chức năng cần định kỳ tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng ứng phó thiên tai cho chủ cơ sở sản xuất. Đồng thời, tỉnh cần đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực logistics và bảo quản nông sản xanh.

4.2. Định hướng chiến lược thích ứng cho doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân cần chủ động tích hợp yếu tố rủi ro khí hậu vào kế hoạch tài chính trung và dài hạn. Các chủ thể sản xuất nên đa dạng hóa danh mục đầu tư giữa trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nhằm phân tán rủi ro. Việc xây dựng thương hiệu nông sản hữu cơ đạt chuẩn OCOP giúp gia tăng giá trị sản phẩm trên thị trường. Doanh nghiệp cần chủ động tham gia các hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp để giảm nhẹ tổn thất tài chính sau thiên tai. Hợp tác liên kết theo mô hình hợp tác xã kiểu mới giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao vị thế đàm phán.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp kinh tế đầu tư tác động của biến đổi khí hậu đến thực trạng đầu tư nông nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân tại tỉnh thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu 1. Khái niệm biến đổi khí hậu Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (1992), BĐKH “là sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong các thời gian có thể so sánh được”. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) thì BĐKH “là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn”.

Trong chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tháng 7/2008 đã nêu ra định nghĩa “biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất”. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016) định nghĩa biến đổi khí hậu “là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí hậu tượng thủy văn cực đoan”.

Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 1. Nguyên nhân chủ quan Biến đổi khí hậu là hệ quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là do các tác động của con người. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2021), nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng xuất phát từ các hành động của con người. Đầu tiên là hoạt động sản xuất năng lượng, đây là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất, xuất phát từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch để tạo ra điện và nhiệt.

Quá trình này thải ra lượng lớn cacbon đioxit và nitơ oxit, đây đều là những khí nhà kính mạnh bao trùm trái đất và giữ lại nhiệt của mặt trời. Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp như sản xuất xi măng, thép, nhựa, quần áo và các mặt hàng khác cũng góp phần đáng kể vào lượng khí thải thông qua việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch để tạo ra năng lượng cho quá trình sản xuất. 6 Ngoài ra, hoạt động chặt phá rừng để mở rộng đất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đã làm hạn chế khả năng của tự nhiên trong việc giảm khí thải trong bầu khí quyền. Phá rừng, cùng với hoạt động nông nghiệp và các hoạt động sử dụng đất khác, là nguyên nhân gây ra khoảng một phần tư lượng phát thải khí nhà kính trên toàn cầu.

Giao thông vận tải, với việc sử dụng phổ biến nhiên liệu hóa thạch trong ô tô, xe tải, tàu thuyền và máy bay, cũng là một nguồn phát thải đáng kể, chiếm gần một phần tư lượng CO₂ liên quan đến năng lượng trên thế giới. Hơn nữa, quá trình sản xuất lương thực cũng là một nguyên nhân gây ra BĐKH, thông qua các hoạt động như việc chặt phá rừng để khai khẩn đất trồng trọt, làm thức ăn cho gia súc, sản xuất và sử dụng phân bón trong trồng trọt, sử dụng năng lượng (thường là nhiên liệu hóa thạch) để chạy các thiết bị trong nông trại hay tàu cá,. Trên thực tế, quá trình sản xuất lương thực toàn cầu tạo ra 1/3 tổng lượng khí nhà kính, trong đó các quy trình sản xuất lương thực (gồm cả sử dụng phân bón) đóng góp 39% lượng phát thải; tiếp đó việc phát thải khí metan từ chăn nuôi và trồng trọt chiếm tới 35% tổng lượng phát thải từ sản xuất lương thực (IPCC, 2014). Các tòa nhà dân cư và trung tâm thương mại, thông qua việc tiêu thụ điện để làm ấm, tạo mát và sử dụng các thiết bị gia dụng cũng đã làm gia tăng lượng khí thải CO₂, đặc biệt là khi phần lớn điện vẫn được tạo ra từ nhiên liệu hóa thạch.

Cuối cùng, thói quen tiêu dùng quá mức của con người với các hàng hóa như quần áo, đồ điện tử và đồ nhựa, đặc biệt là tại các đất nước có mức sống cao, cũng làm trầm trọng thêm tình trạng phát thải khí nhà kính. Nguyên nhân khách quan Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan do con người, BĐKH còn xảy ra do lý do khách quan đến từ các tác động của tự nhiên bao gồm: sự thay đổi đặc điểm quỹ đạo của Trái Đất, biến đổi khí cacbon đioxit trong khí quyển, núi lửa phun trào, biến đổi của mặt trời, kiến tạo mảng và sự luân chuyển nhiệt muối (Nwankwoala H. Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thay đổi quỹ đạo của Trái Đất. Theo lý thuyết Milankovitch, ba đặc điểm quỹ đạo chính của Trái Đất bao gồm độ lệch tâm, độ nghiêng trục và tiến động, thay đổi theo chu kỳ, làm biến đổi lượng bức xạ Mặt Trời mà Trái Đất nhận được, từ đó ảnh hưởng đến nhiệt độ khí hậu toàn cầu.

Bên cạnh đó, sự biến đổi nồng độ cacbon dioxit (CO₂), một loại khí nhà kính có khả năng giữ nhiệt, cũng sẽ ảnh hưởng đến mức độ nóng lên hoặc lạnh đi của khí hậu. Một trong những nguồn phát thải lớn nhất trong tự nhiên là từ hoạt động núi lửa, các vụ phun trào giải phóng không chỉ CO₂ mà còn nhiều hạt bụi và khí sulfur dioxide (SO₂) vào khí quyển. Những hạt bụi này có thể tạo ra một lớp mây dày trong tầng bình lưu, làm giảm lượng bức xạ Mặt Trời đi vào Trái Đất, gây ra hiện tượng lạnh đi tạm thời. 7 Ngoài ra, sự thay đổi trong hoạt động của Mặt Trời cũng gây ra ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu.

Mặt Trời không phát ra năng lượng với cường độ cố định mà có những biến động theo chu kỳ. Các nghiên cứu cho thấy nếu mức bức xạ Mặt Trời thay đổi chỉ 1% mỗi thế kỷ, nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể tăng hoặc giảm từ 0,5 đến 1°C. Sự gia tăng bức xạ Mặt Trời đã góp phần vào hiện tượng nóng lên toàn cầu trong các thời kỳ địa chất khác nhau. Thêm vào đó, kiến tạo mảng cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra BĐKH.

Sự di chuyển của các mảng kiến tạo có thể làm thay đổi vị trí của các lục địa, tạo ra các dãy núi mới, ảnh hưởng đến dòng hải lưu và chu trình cacbon. Khi các lục địa tập trung về một khu vực, hiện tượng băng hà có thể xuất hiện do sự thay đổi dòng hải lưu và lượng bức xạ Mặt Trời hấp thụ. Ngược lại, sự tách rời của các lục địa có thể làm tăng diện tích bề mặt hấp thụ nhiệt, thúc đẩy quá trình nóng lên toàn cầu. Cuối cùng, lưu thông nhiệt muối cũng là một yếu tố tác động đến biến đổi khí hậu.

Đây là quá trình vận chuyển nhiệt lượng qua các dòng hải lưu sâu và chậm trong đại dương, giúp điều hòa nhiệt độ giữa các khu vực trên Trái Đất. Khi dòng lưu thông này bị gián đoạn, như là băng tan ở hai cực làm thay đổi độ mặn của nước biển, có thể dẫn đến sự rối loạn khí hậu, gây ra các đợt lạnh đột ngột hoặc hiện tượng nóng lên trong khu vực. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra các tác động nghiêm trọng đến ngành nông nghiệp, đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp bởi diện tích đất bị thu hẹp do nước biển dâng và các tổn thất khác đến từ thiên tai như hạn hán, lũ lụt, sạt lở và hoang mạc hóa. Bên cạnh đó, BĐKH cũng làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp, tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố và phát triển của các giống cây trồng, vật nuôi theo vùng sinh thái.

Sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa dẫn đến những bất ổn về thời tiết như gia tăng số ngày nóng và lạnh cực đoan, mưa lớn, lũ lụt, khan hiếm nước và hạn hán, sạt lở đất, nước biển dâng, và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác (Woillez & cs. Điều này không chỉ làm chậm quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và đa dạng hóa sản phẩm mà còn làm biến dạng nền nông nghiệp truyền thống. Thiên tai ngày càng gia tăng do BĐKH, điển hình là hạn hán kết hợp với xâm nhập mặn trên các sông lớn và vừa, gây ra ảnh hưởng nặng nề đến các vùng canh tác ven sông. Hơn nữa, công tác thủy lợi cũng gặp nhiều khó khăn khi khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, mực nước sông dâng cao, đỉnh lũ lớn hơn, đe dọa các tuyến đê và diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài.

Biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng xâm nhập mặn, đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam, nhất là tại vùng Đồng bằng 8 sông Cửu Long. Sự gia tăng độ mặn trong đất không chỉ làm giảm diện tích đất canh tác mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số sử dụng đất, có khả năng giảm từ 3-4 lần/năm xuống còn 1-1,5 lần/năm. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nguy cơ ngập mặn đặc biệt nghiêm trọng. Theo nghiên cứu và dự báo của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH của Liên hợp quốc và Ngân hàng thế giới, ở Việt Nam, nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ là 1,5-2,0 triệu ha và vào những năm lũ lớn khoảng trên 90% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập từ 4 đến 5 tháng, trong đó chủ yếu là đất lúa bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể sản xuất.

Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng thiên tai khiến năng suất cây trồng giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ