CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Nội dung nghiên cứu của các nhà nghiên cứu quốc tế thường đề cập đến các mô hình, xu hướng phát triển KCN; kinh nghiệm phát triển KCN cũng như quá trình hình thành và thực trạng phát triển các KCN của một quốc gia ở góc độ tổng quát và các giải pháp nhằm phát triển các KCN trong các giai đoạn khác nhau. Về tổng quan, các nghiên cứu của UNIDO đã tổng hợp các mô hình phát triển của KCN, từ mô hình đơn giản là phát triển và cung cấp cơ sở vật chất: đường giao thông và các tiện ích công cộng (nước, năng lượng, xử lý chất thải…) cho doanh nghiệp hoạt động, đến mô hình phức tạp hơn, cung cấp hàng loạt các dịch vụ tiện ích hỗ trợ, như dịch vụ tư vấn, tài chính, kỹ thuật, thông tin, công nghệ, nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp… đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư [61]. Báo cáo của UNIDO còn cho thấy, dù có ở mô hình phát triển nào, vai trò của các KCN trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, giải quyết công ăn việc làm, tạo nguồn thu ngân sách (NS) nhà nước cho địa phương đều thể hiện như là một tiêu chí bắt buộc để đảm bảo sự phát triển của các KCN; các khu vực xung quanh KCN sẽ phát triển năng động hơn, cùng với đó là sự phát triển đa dạng các loại hình văn hóa, ý thức bản sắc văn hóa của cộng đồng được thiết lập; phát triển KCN còn được đánh giá dưới góc độ của một công cụ chính sách đối với khả năng tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển chuỗi cung ứng trong quá trình hội nhập toàn cầu.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của UNIDO còn khẳng định thêm khía cạnh phát triển hệ thống của KCN trong hình thành kết nối với các nguồn vốn, các tổ chức tín dụng và đầu tư, giải quyết các vấn đề chênh lệch thông tin và giảm các chi phí giao dịch, hướng đến phát triển bền vững ngành CN địa phương [72]. Đây là điều đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển KCN của các nền kinh tế mới nổi, đang chuyển đổi. 7 luan an Ketels và Olga Memedovic đã đề xuất đến hình thức đầu tư đối tác công tư (PPP) trong đầu tư cung cấp các dịch vụ bên trong KCN, bàn luận mức độ tham gia của phía chính phủ và khu vực tư nhân: trong thời hạn bao lâu, thời điểm… [64]. Cùng quan điểm này, Condorelli, F cho rằng chi đầu tư phát triển của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển ban đầu của các KCN.
Sau đó, có thể thông qua các cơ chế ưu đãi như ưu đãi về tiền thuê đất cho khu vực tư nhân đầu tư, phát triển KCN, cung cấp các khoản tài trợ/vay để xây dựng, phát triển KCN từ một định chế tài chính nào đó [58]. Về xu hướng phát triển hiện nay của các KCN được Condorelli, F và S. klessova (2012) phân tích khá rõ. Theo đó, mô hình phát triển KCN hiện đại theo hướng bền vững, nhắm đến các mục tiêu lợi ích cao nhất về môi trường, kinh tế và xã hội cũng như hỗ trợ hoạt động kinh doanh đang được nhiều quốc gia quan tâm.
Hai ông cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng trong việc quy hoạch và phát triển KCN, cùng với các nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn của nó [58]. Như lý thuyết định vị công nghiệp của Alfred Weber đã đề cập, quá trình hình thành và phát triển các KCN là dựa trên tập trung hóa sản xuất CN theo lãnh thổ, coi quá trình hình thành các KCN là quá trình tích tụ sản xuất, thúc đẩy quá trình tập trung các cơ sở sản xuất CN vào khu vực nhất định [56]. Việc tập trung CN tại một vị trí có những ưu điểm và hạn chế riêng. Theo đó, trong mỗi quá trình tích tụ về quy mô vốn, lao động ở một mức độ nhất định đều dẫn phát rất nhiều các vấn đề xã hội, mà nếu không giải quyết nó sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển các KCN và đưa ý nghĩa lan tỏa về mặt kinh tế của KCN thành mặt lan tỏa tiêu cực của các tệ nạn xã hội.
Không chỉ các vấn đề xã hội đối với người lao động của KCN, tác động của dòng người lao động nhập cư đến các khu dân cư gần các KCN cũng là một lĩnh vực thường xuyên được nghiên cứu trong góc độ này. Chẳng hạn, Park 8 luan an Joon và Ahn Kun-hyuck trong công trình How did immigrant workers change residential area near industrial estate in Korea? đã tiến hành nghiên cứu tại Wongok ở Ansan, một thành phố CN điển hình của Hàn Quốc. Tác giả chỉ ra sự tăng lên nhanh chóng các KCN ở Wongok kể từ năm 1998, kéo theo sự tăng lên của dòng người nhập cư tới KCN. Sự gia tăng nhanh chóng dân cư trong khu vực buộc Wongok phải mở rộng khu dân cư, kéo theo nhiều tác động hệ lụy về nhà ở cho người nhập cư, yêu cầu phát triển đối với các dịch vụ kèm theo, trên cơ sở phân tích các biến đổi này, đánh giá tác động đối với các khu dân cư lân cận.
Phương pháp phân tích đối với góc độ nghiên cứu này thường sử dụng bảng câu hỏi khảo sát để đi sâu nghiên cứu rõ thực trạng, nhu cầu, những bức xúc, bất cập xã hội nảy sinh từ thực trạng phát triển của các KCN. Từ đó, góp ý kiến khắc phục những khó khăn, bất cập nảy sinh từ thực trạng đã nêu, nhằm góp phần cải thiện đời sống cho những người lao động tại các KCN và người dân địa phương ven KCN [68]. Ở một góc độ khác, lý thuyết của Andy Field, Michael Porter, Torget Reve đặt ra yêu cầu đẩy mạnh sự phát triển các KCN về mặt hướng liên kết. Trên cơ sở nghiên cứu của ông, khái niệm CN sinh thái đã được sử dụng như là một mục tiêu để xây dựng và phát triển các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc [69].
Đây là một nội dung quan trọng trong phát triển KCN về mặt hệ thống. Trong nghiên cứu Chinese Science and Technology Industrial Parks của Susan M. Walcott (2003) đã đưa ra các lập luận về xu hướng phát triển KCN dựa trên các lý thuyết về liên kết KCN trong bối cảnh của Trung Quốc với các khác biệt ở các địa phương khác nhau, từ Tây An ở phía Tây tới Bắc Kinh ở phía Bắc, Tô Châu - Thượng Hải ở Duyên Hải và Shenzhen - Dongguan ở Đông Nam. Từ những lợi ích cũng như vai trò quan trọng của phát triển kinh tế, chính quyền các địa phương, và cộng đồng doanh nghiệp của mỗi khu vực được khuyến nghị nên hợp tác với nhau, cũng như phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng đặc trưng của mỗi khu vực để vận dụng hiệu quả nhất các điều kiện của mỗi bên, từ thể chế, chính sách đến hệ thống cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực logistics… thúc đẩy các KCN cùng phát triển [71].
9 luan an Tiến thêm một bước, Orijan Solvell khi nghiên cứu về việc hình thành và xây dựng các cụm công nghiệp (CCN) và KCN, ông cho rằng sự phát triển của KCN là một hoạt động kinh tế và chịu tác động bởi ba cấp độ kinh tế: (1) Ở cấp độ vĩ mô là chính sách kinh tế và sự phát triển kinh tế quốc gia, toàn cầu; (2) Cấp độ khu vực là chính sách phát triển của vùng, sự sẵn có về nguồn lực, sự phát triển của các ngành CN hỗ trợ; (3) Ở cấp độ vi mô là sự liên kết hay mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp CN trong KCN [67]. Ở mức phát triển hiện nay, các KCN được biết đến như những công viên CN (Industrial park), hay KCN sinh thái. K Fleig, KCN sinh thái tạo ra những liên kết tương hỗ giữa khu vực sản xuất và dịch vụ, nhờ vậy, môi trường và các nguồn lực như nước, năng lượng, giao thông, và nguyên vật liệu được quản lý và sử dụng một cách hợp lý, bền vững và tác động đến hệ sinh thái ở mức thấp nhất [55]. Trong nghiên cứu“The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development of eco - industrial parks: an Australian case study” trên tạp chí Sản xuất sạch của B.
Roberts Elsevier đã bàn luận về KCN sinh thái với tiêu chí cụ thể như: KCN được thiết kế theo chủ đề bảo vệ môi trường, KCN có hạ tầng kỹ thuật và các công trình bảo vệ môi trường, KCN bao gồm các DN sử dụng các phế phẩm và phụ phẩm của nhau, các DN tái chế, các DN sản xuất sản phẩm sạch và có công nghệ bảo vệ môi trường, trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau về tổ chức quản lý phát triển bền vững các KCN…[57]. Với lịch sử hình thành và phát triển lâu dài của các KCN, các nghiên cứu về phát triển KCN trên thế giới đến nay đã cho thấy sự đa dạng và phong phú, có ý nghĩa to lớn về thực tiễn và lý luận. Mỗi nghiên cứu có một hướng tiếp cận riêng theo quy mô và phạm vi nghiên cứu cụ thể, rất khó để tìm thấy khoảng trống về mặt lý luận phát triển các KCN. Tuy vậy, điểm chung của các nghiên cứu quốc tế chỉ dừng lại ở các hàm ý chính sách mà thiếu đi giải pháp mang tính thực thi, điều kiện triển khai cụ thể.
Do đó, các nghiên cứu quốc tế sẽ là kho lý luận phong phú, nguồn kinh nghiệm quý giá để luận án có hướng tiếp cận thuận lợi hơn đối với thực tiễn phát triển các KCN tại vùng KTTĐ miền Trung. Các nghiên cứu trong nước Hướng tiếp cận chủ yếu của các nghiên cứu trong nước hiện nay là phát triển KCN đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế ổn định và phát triển hài hòa với các mặt xã hội và bảo vệ môi trường. Phần lớn nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận lý thuyết trong đánh giá xu hướng và kết quả của phát triển bền vững các KCN, một số nghiên cứu đã đánh giá được khá đầy đủ các chỉ tiêu phát triển bền vững các KCN và đưa ra các định hướng giải pháp trong khi một vài nghiên cứu khác lại sử dụng nghiên cứu tình huống tại một KCN hoặc một địa phương.