CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỀN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Một số vấn đề chung về KCN 1. Khái niệm chung về KCN và khu kinh tế Theo luật đầu tư được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 đã đưa ra khái niệm cụ thể như sau: - Khu Công Nghiệp (Industrial zones): là khu tập trung các DN, KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập. KCN có vị trí xác định, có thể có hoặc không có rào ngăn cách, không có dân cư sinh sống.
KCN thành lập để thu hút các DN sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp. Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất của nhà nước để đầu tư hạ tầng và thu phí. Được quản lý bởi một cơ quan là Ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố theo cơ chế ủy quyền của các bộ ngành, với cơ chế một cửa, một đầu mối, ưu đãi thuế thu nhập DN,… - Khu Chế Xuất (Export processing zones): là KCN tập trung các DN chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. KCX xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất xuất khẩu, còn KCN được mở ra cho tất cả các ngành công nghiệp kể cả nhu cầu phuc vụ tiêu dùng của thị trường nội địa lẫn thị trường xuất khẩu.
Ngoài các đặc điểm giống KCN, KCX còn có một số đặc điểm riêng như: + Quan hệ giữa bên trong và bên ngoài KCX là quan hệ xuất nhập khẩu. 13 + Bắt buộc có hàng rào phân cách giữa giữa KCX và nội địa. - Khu công nghệ cao (High-Technology zones): là khu tập trung các DN công nghiệp kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm: nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. So với các KCN, KCX, thì KCNC sản xuất ra các sản phẩm theo công nghệ tiên tiến, hiện đại, nhằm tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghệ và công nghiệp quốc gia.
KCNC có ranh giới nhất định, thu hút chuyên gia và lao động giỏi; ngoài hoạt động sản xuất và dịch vụ sản xuất, KCNC còn có hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, huấn luyện và đào tạo nhân lực trình độ cao, sản phẩm làm ra mang hàm lượng cao về công nghệ và chất xám. KCNC được hưởng chế độ ưu đãi về thuế, tài chính tín dụng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,…Ngoài ra, KCNC còn có nhiều đặc biệt khác như có KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế và khu nhà ở. - Đặc khu kinh tế (Special Economic zones): là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh, đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của chính phủ; là loại hình khu kinh tế tự do, tổng hợp tất cả các hoạt động kinh doanh toàn diện từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học trong một vùng lãnh thổ riêng biệt, có diện tích lớn hơn nhiều so với các KCN, KCX. Bên cạnh các mục tiêu tương tự như KCN, KCX, Đặc khu kinh tế còn đóng vai trò như là cửa ngõ giao lưu kinh tế, xã hội của nước chủ nhà với thế giới bên ngoài.
Đặc khu kinh tế còn là phòng thí nghiệm nền kinh tế thị trường trước khi áp dụng chính thức trong cả nước. Vì thế, Đặc khu kinh tế thường được đặt tại các vùng ven biển, ven biên giới, hải đảo,…tương đối biệt lập với vùng nội địa. Đặc trưng của các Đặc khu kinh tế là được hưởng các quy chế tự do linh hoạt hơn các KCN, KCX; được phép kinh doanh tổng hợp các loại hình kinh tế, dịch vụ; được tiêu thụ một phần sản phẩm trên thị trường nội địa theo nguyên tắc vừa hướng nội, vừa hướng ngoại, khuyến khích sử dụng nguyên liệu trong nước. Cơ chế quản lý 14 Đặc khu kinh tế mang tính độc lập, có tư cách lập pháp, hành pháp, có con dấu riêng với các chế độ hành chính một cửa.
Ban quản lý không chỉ có trách nhiệm liên quan đến các hoạt động kinh tế, sản xuất, mà cả việc cấp visa đi lại, quyền lưu trú của các nhà đầu tư nước ngoài,… Tóm lại, căn cứ vào thực tế hoạt động và sự hình thành các KCN, KCX, KCNC ( gọi tắt là KCN) cho thấy, các khu vực này đều có đặc điểm chung là được quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất một cách có hệ thống của nhà nước, nhằm cung cấp hạ tầng cơ sở cho các DN chuyên sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và đảm bảo tiện ích cho cộng đồng, do Chính Phủ quyết định thành lập hoặc giải tán khi cần thiết. Căn cứ vào các quan điểm trên, có thể hiểu và định nghĩa về KCN như sau: “KCN là một khu đất được quy hoạch lâu dài, có ranh giới địa lý xác định do chính phủ quyết định thành lập hoặc giải thể, được đầu tư xây dựng hệ thống công trình, kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất – kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa 3 mặt lợi ích kinh tế - xã hội – môi trường. Bên trong KCN chỉ có những DN sản xuất sản phẩm công nghiệp và những dịch vụ công nghiệp, được đầu tư bởi nhiều thành phần kinh tế khác nhau.” Với nội dung trên, chúng ta thấy: - Về phạm vi địa lý: KCN được xây dựng trên cơ sở vị trí thuận lợi để phát triển công nghiệp và dịch vụ. Đó là một khu vực có sự phân cách bằng hàng rào KCN, có quy mô diện tích đất lớn, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng lãnh thổ.
- Đối tượng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN là những DN sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc thực hiện những dịch vụ công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau như: DN nhà nước, DN cổ phần, DN trách nhiệm hữu hạn, DN liên doanh, DN tư nhân,…Chính nhờ sự tương thích của các DN trong một số ngành công nghiệp mà các DN có thể tiến hành hợp tác với nhau trong nội bộ KCN. Từ đó, sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Đây chính là một trong những lợi thế của các DN nằm trong KCN. 15 - Nguyên tắc phát triển các KCN phải phù hợp với quy hoạch phát triển mang tính bền vững về kinh tế xã hội của từng vùng lãnh thổ hoặc quốc gia, nhằm đảm bảo phát triển cân đối, hài hòa giữa 3 mặt lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường.
Xuất phát từ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc quy hoạch và phát triển các KCN, ta thấy việc phát triển các KCN ở Việt Nam nhằm đạt đến các mục tiêu cơ bản sau:. Tạo động lực thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm cho người lao động.
Phát triển và khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng. Hạn chế ô nhiễm, tiến tới công tác bảo vệ môi trường. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý sản xuất tập trung. Đẩy mạnh tiến độ áp dụng khoa học – công nghệ.
Góp phần thúc đẩy sự hình thành thị trường tài chính của vùng. Phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Quá trình hình thành và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam Tiền thân của các KCN, KCX ở Việt Nam là khu kĩ nghệ Biên Hòa (nay là KCN Biên Hòa I), được thành lập năm 1963. Nơi này có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển công nghiệp, đây cũng là KCN lớn nhất và phát triển nhất sau ngày miền Nam giải phóng 1975.
Bên cạnh đó, tại miền Bắc cũng xây dựng nhiều khu liên hợp, cụm công nghiệp lớn nhằm phát triển công nghiệp, tạo cơ sở phát triển các KCN, KCX, KCNC sau này, điển hình là KCN gang thép Thái Nguyên. Nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý KCN - KCX, ngày 18/10/1991 chính phủ Việt Nam đã ban hành quy chế KCX kèm theo nghị định 322/HĐBT. Đến năm 1994, Chính phủ ban hành quy chế KCN kèm theo nghị định 192/CP, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của KCN, KCX Việt Nam. Tháng 11/ 1991 KCX Tân Thuận được thành lập, đánh dấu sự ra đời và hoạt động của KCN - KCX đầu tiên ở nước ta.
Ngoài ra, nhằm kiện toàn và đẩy nhanh tốc 16 độ đầu tư xây dựng các KCN, KCX, ngày 25/04/1997 Chính phủ ban hành nghị định 36/CP thống nhất các quy chế KCN, KCX nhằm kiện toàn và đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng, phát triển các KCN, tạo một hành lang pháp lý đặc biệt cho loại hình kinh tế còn khá mới mẻ có điều kiện tăng tốc phát triển. Chúng ta chưa có kinh nghiệm, lại thiếu tiềm lực về vốn đầu tư, hơn nữa lại chịu sự cạnh tranh gay gắt về thu hút đầu tư nước ngoài với các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,… nên với đường lối chính trị đúng đắn, với chính sách kinh tế mở, thông thoáng, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới, đã hấp dẫn được các nhà đầu tư, khẳng định được vị trí nước ta trên trường quốc tế. Hơn nữa, chúng ta là nước đi sau trong việc xây dựng và phát triển các KCN, nên có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm của những nước đi trước. Trên cơ sở đó, phân tích những nguyên nhân thành công, thất bại, để rút ra những phương thức, điều kiện hoạch định những bước đi thích hợp cho việc xây dựng và phát triển các KCN ở nước ta sau này.