Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu trước. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày tổng quan bức tranh tổng thể về CLTT trên BCTC cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC thông qua việc tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Vì thời gian và kiến thức hạn hẹp, tác giả sẽ trình bày một cách tương đối các nghiên cứu điển hình và từ đó kết luận chung về vấn đề cần nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 1.
Tổng quát các nghiên cứu về CLTT BCTC Jonas & Blanchet (2000), thông qua việc phân tích ưu điểm và hạn chế của các khuôn mẫu và các quy định về CLTT BCTC được ban hành bởi các tổ chức FASB; AICPA, SEC kết hợp với nghiên cứu định tính thông qua việc thảo luận với các nhóm chuyên gia của Hội đồng tư vấn POB, kiểm toán viên và nhà quản lý DN, nhóm tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo đo lường CLTT BCTC. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là điều chỉnh mô hình cho phù hợp với nhu cầu của người sử dụng BCTC (nhà đầu tư, chủ nợ). Theo nghiên cứu này, CLTT BCTC là một thang đo bậc 4, được đo lường bởi năm thành phần là: thích hợp, nhất quán, rõ ràng, đáng tin cậy, và có khả năng so sánh. Thích hợp là một thang đo bậc 3 được đo lường bởi hai thành phần bậc 2 là Giá trị dự đoán, Giá trị phản hồi và thành phần bậc 1 là Kịp thời (4 biến quan sát).
Giá trị dự đoán được đo lường bởi hai thành phần bậc 1 là Dự đoán từ lợi nhuận (3 biến quan sát) và Giá trị phân biệt (3 biến quan sát). Đáng tin cậy là một thang đo bậc 2, được đo lường bởi bốn thành phần bậc 1 là Có thể xác định được (4 biến quan sát), Trình bày trung thực (4 biến quan sát), Trung lập (3 biến quan sát) và Đầy đủ (3 biến quan sát). Có khả năng so sánh là một thang đo bậc 1, được đo lường bởi 2 biến quan sát. Nhất quán là một thang đo bậc 1, được đo lường bởi 2 biến quan sát.
Rõ ràng là một thang đo bậc 1, được đo lường bởi 5 biến quan sát. Nghiên cứu của Jonas & Blanchet (2000) mới chỉ dừng lại ở phần nghiên cứu định tính, hai tác giả chưa tiến hành kiểm định thang đo 6 và tiến hành phần nghiên cứu định lượng giúp đo lường CLTT BCTC bằng con số cụ thể. Kristina Rudzioniene và Toma Juozapaviciute (2013), qua quá trình phân tích, tổng hợp, nhận thấy nhu cầu chính của người sử dụng BCTC là CLTT trên BCTC và đặc biệt nhu cầu này rất cao ở khu vực công. Kristina Rudzioniene và Toma Juozapaviciute đã thực hiện bài nghiên cứu về chất lượng BCTC khu vực công của Lithuania với mục đích trình bày và đánh giá chất lượng BCTC của một khu vực công.
Theo kết quả tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu, tác giả đã đưa ra định nghĩa về CL kế toán: “Chất lượng kế toán là đặc điểm của thông tin BCTC, phù hợp với chính sách kế toán của tổ chức, quy chế kế toán hiện hành để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán”. IPSAS (2013) và các tác giả đưa ra sáu đặc điểm chất lượng quan trọng nhất: tính thích hợp, tính kịp thời, tính so sánh, tính dễ hiểu, tính có thể kiểm chứng và tính trung thực. Mô hình này bao gồm các yếu tố quyết định lớn nhất của CLKT (quy chế kế toán và chính sách kế toán), thành phần chất lượng kế toán (tất cả năm BCTC có thông tin kế toán), các công cụ đánh giá định tính và định lượng và cuối cùng là sự hài lòng của người dùng về tính hữu ích trong việc ra quyết định. Mô hình được thử nghiệm cho một tổ chức khu vực công của Lithuania.
Sau khi phân tích những thay đổi về đặc điểm định tính, bài nghiên cứu đã khẳng định rằng cải cách hệ thống BCTC và kế toán khu vực công được chứng minh là có lợi cho sự liên quan, kịp thời, dễ hiểu, trung thực, kiểm chứng và so sánh BCTC. Thông tin kế toán trở nên dễ hiểu và trung thực hơn. Sau cải cách, chất lượng BCTC trong khu vực công đã trở nên cao hơn bởi vì người dùng thông tin có thể so sánh nó, có thể phân tích ngang và dọc cũng như có thể tính toán nhiều tỷ lệ. Ưu điểm của mô hình lý thuyết đánh giá chất lượng BCTC được thiết kế cho khu vực công là quy trình phát triển thông tin chất lượng vòng lặp được hệ thống hóa: yếu tố quyết định Chất lượng TTKT trong khi thành phần, bộ BCTC, các công cụ đánh giá phục vụ đáp ứng yêu cầu của người dùng.
Mô hình này được tạo ra cho các tổ chức khu vực công như các BCTC cụ thể được trình bày. Với những sửa đổi nhỏ, mô hình cũng có thể áp dụng trong khu vực tư nhân. Tổng quát các nghiên cứu liên quan đến nhân tố tác động đến CLTT BCTC Năm 1984, trong bài nghiên cứu của mình Choi và Mueller đã đưa ra danh sách chi tiết các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển hệ thống kế toán bao gồm các nhân tố sau: Hệ thống pháp luật; Hệ thống chính trị; Nguồn gốc sở hữu vốn; Qui mô và độ phức tạp của đơn vị; Đặc điểm xã hội; Mức độ tinh tế, nhạy cảm của môi trường kinh doanh; Mức độ suy luận pháp lý; Chính sách kế toán hiện tại; Tốc độ đổi mới kinh doanh; Bối cảnh phát triển kinh tế; Phát triển của các thành phần kinh tế; Phát triển giáo dục nghề nghiệp và tổ chức nghề nghiệp. Tuy nhiên, đây là các nhân tố chi tiết chưa được phân nhóm, sau đó 12 nhân tố này đã được phân loại thành 5 nhóm thích hợp như sau: Môi trường pháp lý; Môi trường chính trị; Môi trường kinh tế; Môi trường văn hoá; Môi trường giáo dục, nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp (Zhang, 2005).
Mặc dù các nghiên cứu của Choi và Mueller (1984) đề cập đến các vấn đề liên quan đến sự phát triển của hệ thống kế toán nhưng suy cho cùng sự phát triển hệ thống kế toán bao giờ cũng hướng đến việc tạo ra hệ thống thông tin đầu ra có tính hữu ích cao, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và được sự thừa nhận rộng rãi của các quốc gia, tổ chức kinh tế lớn trên thế giới. Do đó, CLTT trên BCTC cũng sẽ bị chi phối bởi những nhân tố trên. Cristina Silvia Nistora & các cộng sự (2013), nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu lúc bấy giờ là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán công cũng như các nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này tại các quốc gia mới nổi và đặc biệt là các nước châu Âu, Critina Silvia Nistora & các cộng sự đã thực hiện bài nghiên cứu này với mục đích xác định mức độ ảnh hưởng các nhân tố môi trường khác nhau để tạo ra những thay đổi trong kế toán công theo khuôn khổ mà nhóm tác giả đề xuất dựa trên nghiên cứu của Zang (2005), Choi và Mueller (1984), Nobes (1984), Gray (1988), Radebaugh và Gray (1997). Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận sự phát triển kế toán khu vực công chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố môi trường (1) Môi trường chính trị, (2) Môi trường pháp lý, (3) Môi trường kinh tế, (4) Môi trường giáo dục, (5) Môi 8 trường văn hóa xã hội, (6) Môi trường nghề nghiệp.
Bài nghiên cứu cũng khẳng định nhóm sáu nhân tố này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kế toán khu vực công của các quốc gia mới nổi, đang phát triển khác. Iskanda Muda và các cộng sự (2018), dựa vào kết quả nghiên cứu của một số tác giả: nghiên cứu của Lubis (2016) cho thấy việc tuân thủ CMKT và hệ thống TTKT của khu vực công ảnh hưởng tích cực đến chất lượng của BCTC; nghiên cứu của Lubis (2016), Maksum (2014), Muda (2014) cho thấy Hệ thống kế toán tài chính ảnh hưởng đến chất lượng BCTC khu vực công; và đặc biệt là nghiên cứu của Muda (2015), Muda (2017) và Nurzaimah (2016) mang đến kết quả Hệ thống kiểm soát nội bộ không có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng BCTC; Iskanda Muda và các cộng sự (2018) đã thực hiện bài nghiên cứu với mục đích kiểm định lại liệu Hệ thống TTKT và kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của khu vực công không? Phương pháp được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là phương pháp định tính kết hợp với định lượng. Trong phương pháp định lượng kỹ thuật lấy mẫu được sử dụng là lấy mẫu ngẫu nhiên, phương pháp thu thập dữ liệu là sử dụng bảng câu hỏi. Bài nghiên cứu đã đưa ra hai kết luận chính: Thứ nhất là, HTTT kế toán ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của khu vực công.
Thứ hai là, kiểm soát nội bộ không ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của khu vực công. Chất lượng BCTC khu vực công góp phần nâng cao chất lượng ra quyết định về hiệu quả và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách công thông qua thông tin tài chính chính xác, minh bạch, đồng thời cải thiện phân bổ nguồn lực bằng cách báo cáo chi phí phát sinh từ chính sách và tính minh bạch của sự thành công của một dự án (Maksum, 2014). CNTT là cơ sở vật chất và là cơ sở hạ tầng, phần cứng, phần mềm, sử dụng các hệ thống và phương pháp để thu thập, truyền tải, xử lý, diễn giải, lưu trữ, tổ chức và sử dụng dữ liệu có ý nghĩa (Lubis, 2016). Và với việc sử dụng CNTT sẽ giảm thiểu sai sót, bởi vì tất cả các hoạt động quản lý tài chính sẽ được ghi lại một cách có hệ thống hơn và cuối cùng sẽ có thể trình bày BCTC khu vực công một cách đáng tin cậy.
Hệ thống KTTC khu vực công là một trong những hệ thống con tổ chức tạo điều kiện tích cực cho việc kiểm soát bằng cách báo cáo hiệu quả sử dụng nguồn 9 ngân sách của khu vực công. Tổng quan các nghiên cứu trong nước 1.