CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP Mục đích của chương là trình bày cơ sở lý luận về năng lực cạnh của doanh nghiệp; các nghiên cứu về các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và xác lập quy trình hoạch định chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.1 Một số lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về cạnh tranh trong kinh tế. Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội. Với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện trong mọi lĩnh vực, trong mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu.
Từ điển kinh doanh Anh –Việt ghi nhận: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất” (Nguyễn Đức Dy, 2002, trang 115). Từ điển Bách khoa Việt Nam ghi nhận: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất” (Vũ Tùng Lâm, 2006, trang 13). Trong điều kiện mới của môi trường cạnh tranh, cạnh tranh trên thương trường không phải là diệt từ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2003). 7 Theo lý thuyết Đại Dương Xanh, trong đó các Đại Dương Xanh là những thị trường còn bỏ ngỏ với những cơ hội phát triển hứa hẹn lợi nhuận cao.
Bản chất của “Chiến lược Đại Dương Xanh” là nâng cao về giá trị đi kèm với sự tiện lợi, giá cả thấp và chi phí giảm mạnh. Cạnh tranh trong Đại Dương Xanh là tạo thêm khoảng thị trường mới, nhu cầu mới và trên cơ sở đó mở rộng thêm thị trường (W.Chan Kim và Renée Mauborgne, 2007). Như vậy, theo thời đại và trình độ phát triển kinh tế, lý luận cạnh tranh đã không ngừng được bổ sung và phát triển. Theo quan niệm truyền thống thì cạnh tranh phản ánh mối quan hệ đối kháng của các chủ thể kinh tế mang đậm nét đối đầu và hủy diệt, “thương trường là chiến trường”; cạnh tranh diễn ra trên thị trường và thị trường ngành là môi trường cạnh tranh gay gắt nhất; phương thức cạnh tranh là giá cả thấp hoặc hàng hóa có chất lượng tốt nhất; mục đích của cạnh tranh là giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với đối thủ.
Theo quan niệm hiện đại, khi mà môi trường cạnh tranh ở trong điều kiện mới, thì cạnh tranh chuyển từ đối đầu sang liên kết, hợp tác theo nguyên tắc win-win (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2003); cạnh tranh không còn là cuộc chiến của chỉ các đối thủ hiện tại trong ngành mà là cạnh tranh giành những cơ hội xuất hiện trong tương lai (Gary Hamel, 1995), và cạnh tranh trong Đại Dương Xanh là tìm đến những khoảng trống thị trường – thị trường mới, nhu cầu mới (W. Chan Kim và Renée Mauborgne, 2007); giá cả không còn là tiêu chuẩn cạnh tranh cao nhất; và mục đích là có được giá trị gia tăng cao hơn, sự phát triển bền vững. Đặc trưng của cạnh tranh: - Cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh; - Cạnh tranh (với hình thức đối đầu hay liên kết hợp tác) suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng; - Mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm. Ý nghĩa của cạnh tranh: - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng; 8 - Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường; - Cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất; - Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh; - Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế xã hội.
Vậy, cạnh tranh chính là động lực phát triển. Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh tạo ra một sức ép buộc các doanh nghiệp phải cải tiến quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kỹ thuật công nghệ, để không ngừng tăng năng suất, thúc đẩy hình thành lợi thế kinh tế quy mô.2 Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Lợi thế cạnh tranh là một phạm trù thuộc về khoa học quản lý. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp biểu thị chênh lệch tuyệt đối về năng suất với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành (M. Lợi thế cạnh tranh là khái niệm dùng để chỉ vị trí cạnh tranh thuận lợi của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Đó là vị trí tương đối trên thị trường, mà ở đó cho phép doanh nghiệp có thể mang đến cho khách hàng một giá trị vượt trội so với các đối thủ. Vì thế, khách hàng sẽ chọn sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và nhờ đó doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành (Bùi Thị Thanh và Nguyễn Xuân Hiệp, 2012). Lợi thế cạnh tranh phát sinh chủ yếu từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng.Porter, có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản mà doanh nghiệp có thể sở hữu là lợi thế chi phí thấp hoặc lợi thế khác biệt hóa. + Lợi thế chi phí thấp, xuất hiện khi doanh nghiệp cung cấp cho người mua các giá trị tương đương như các đối thủ cạnh tranh, nhưng chi phí tích lũy từ việc thực hiện hiện các hoạt động giá trị thấp hơn.
Vì thế, doanh nghiệp có thể chào bán với mức giá thấp hơn hoặc ngang bằng với mức giá bình thường để thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình ngành. 9 + Lợi thế khác biệt hóa, xuất hiện khi doanh nghiệp cung cấp các giá trị độc đáo so với các đối thủ cạnh tranh, nên người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường và vượt trội so với phần chi phí tăng thêm để tạo ra giá trị độc đáo đó. Vì thế, cũng giống như lợi thế chi phí thấp là doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành. Lợi thế cạnh tranh bền vững là sự liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được.
Đó là những lợi thế: Đủ lớn để tạo sự khác biệt; Đủ lâu dài trước những biến đổi của môi trường kinh doanh và phản ứng của đối thủ; Trội hơn đối thủ trong những thuộc tính kinh doanh hữu hình có ảnh hưởng đến khách hàng.3 Nguồn lực của doanh nghiệp Nguồn lực của doanh nghiệp gồm các tài sản hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp sở hữu. Có thể chia nguồn lực doanh nghiệp thành năm loại chính: + Các nguồn lực vật chất: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài chính… + Nguồn lực phi vật chất nội bộ: Các cấu trúc, hệ thống và quá trình như cấu trúc tổ chức, hệ thống quản lý thông tin, qui trình sản xuất… + Nguồn lực phi vật chất bên ngoài: Sự công nhận và hình ảnh của công ty đối với khách hàng, nhà cung cấp, công chúng. + Nguồn nhân lực thuộc cá nhân: Kiến thức và kỹ năng của nhà quản lý và nhân viên. + Nguồn nhân lực thuộc tập thể: Các đặc trưng văn hóa của công ty, khả năng đổi mới, khả năng hợp tác… Lý thuyết về nguồn lực của doanh nghiệp được xem là một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu cạnh tranh của doanh nghiệp.
Dựa vào tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một ngành thường sử dụng những chiến lược kinh doanh khác nhau, không thể có cùng một chiến lược cho hai doanh nghiệp vì chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp được xây dựng dựa vào chính nguồn lực của doanh nghiệp đó. 10 Nguồn lực của doanh nghiệp có thể ở dạng hữu hình (ví dụ như công nghệ về sản xuất và sản phẩm), hoặc vô hình (ví dụ như tri thức, nghệ thuật lãnh đạo, vv). Nguồn lực vô hình thường khó phát hiện và đánh giá nhưng chúng thường tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Doanh nghiệp sở hữu nguồn lực và các khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực đó cho việc phát triển các năng lực độc đáo hay còn gọi là năng lực cốt lõi (tạo ra sự khác biệt và tạo ra giá trị gia tăng) để gia tăng lợi nhuận.
Như vậy nguồn lực được xem là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lý thuyết về nguồn lực doanh nghiệp liên tục được phát triển, đặc biệt nó được mở rộng trong thị trường động và hình thành nên lý thuyết năng lực động. Nguồn lực có thể trở thành nguồn năng lực động là những nguồn lực thỏa mãn bốn đặc điểm: có giá trị, hiếm, khó thay thế, và khó bị bắt chước, thường gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Nonsubstituable). Nguồn năng lực động sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh và đem lại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008).4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp có thể hiện thực hóa các nguồn lực, tiềm lực thành các lợi thế cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn (Huỳnh Thế Phong, 2011).