Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và các đề xuất kiến nghị. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Tổng quan về gian lận và sai sót: 2. Định nghĩa gian lận: Cùng với quá trình phát triển của xã hội và nhận thức của con người, hành vi gian lận đã xuất hiện với nhiều hình thức từ đơn giản đến phức tạp nhằm thỏa mãn lợi ích và nhu cầu của người thực hiện.
Gian lận đã gây ra rất nhiều thiệt hại cho các bên liên quan, vì vậy con người cần phải có một hệ thống lý luận để hiểu rõ hơn về hành vi này nhằm đưa ra các biện pháp ngăn chặn và phát hiện gian lận một cách hiệu quả. Nhiều công trình nghiên cứu về gian lận đã được thực hiện trên những góc độ khác nhau, do đó cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về gian lận. Hiểu một cách chung nhất, gian lận là việc thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Một số định nghĩa khác về gian lận: - Gian lận là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc người khác (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB.
Đà Nẵng, 2006) - Gian lận là hành vi cố ý của một hay nhiều người trong Ban quản lý, Ban giám đốc, nhân viên hay bên thứ ba thực hiện để thu lợi một cách bất chính hoặc bất hợp pháp (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, 2012). - Gian lận là hành vi lạm dụng vị trí, hoặc quyền hạn làm thiệt hại đến lợi ích của người khác để trục lợi cá nhân (Văn phòng điều tra gian lận nghiêm trọng (SFO), Anh Quốc). 6 - Gian lận là hành động trình bày sai sự thật hoặc che giấu một thực tế nhằm gây thiệt hại cho người khác (Bryan Garner, 2004, Từ điển Black’s Law Dictionary 8th Ed. Thomson West, Hoa Kỳ).
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về gian lận nhưng các định nghĩa đều có điểm chung, cho rằng gian lận là những hành vi bất hợp pháp mà người thực hiện lừa gạt người khác để đạt được lợi ích nào đó. Định nghĩa gian lận báo cáo tài chính: Cũng như định nghĩa về gian lận, định nghĩa gian lận báo cáo tài chính được tìm thấy ở rất nhiều công trình nghiên cứu hay các báo cáo của nhiều tổ chức và hiệp hội nghề nghiệp. Đây là một khái niệm phổ biến với ngành nghề kế toán, kiểm toán, tài chính, ngân hàng. Theo Báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính (Treadway Commission, 1987), gian lận báo cáo tài chính được định nghĩa là hành vi cố ý hoặc thiếu thận trọng, dù là cố ý hay thiếu sót, làm sai lệch trọng yếu báo cáo tài chính.
Còn theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE – Association of Certified Fraud Examiners, 1993), gian lận báo cáo tài chính là hành động cố ý hay bỏ sót của sự kiện quan trọng, hoặc dữ liệu kế toán sai lệch và hậu quả khi xem x t với tất cả các thông tin sẵn có, sẽ làm cho người đọc thay đổi sự đánh giá hoặc quyết định của mình. Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 240 (ISA 240) cũng định nghĩa gian lận báo cáo tài chính là làm thay đổi, giả mạo các chứng từ kế toán hoặc ghi ch p sai, không trình bày hay cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên BCTC; cố ý không áp dụng, không tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi ch p các nghiệp vụ phát sinh, ghi ch p các nghiệp vụ không xảy ra. 7 Ngoài ra, theo Elliott and Willingham (1980), gian lận báo cáo tài chính là hành động có chủ ý của nhà quản lý làm thiệt hại cho các nhà đầu tư và các chủ nợ bởi sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Nhìn chung, các định nghĩa trên đều cho thấy gian lận báo cáo tài chính là hành vi sai trái, cố ý vi phạm của các công ty, thông qua việc sử dụng và công bố các báo cáo tài chính sai lệch, nhằm đánh lừa, gây nhầm lẫn và làm tổn hại đến những người sử dụng thông tin trên các báo cáo này, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ.
Sai sót và sai sót trọng yếu: Sai sót là một thuật ngữ rộng lớn hơn so với gian lận. Theo ISA 450, sai sót là “Sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên báo cáo tài chính với giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Sai sót có thể phát sinh do nhầm lẫn hoặc gian lận. Khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính đã được trình bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay chưa, sai sót có thể bao gồm những điều chỉnh về giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh mà theo x t đoán của kiểm toán viên là cần thiết để báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu”.
Sai sót được cho là trọng yếu nếu những sai sót này, khi x t riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, được xem x t ở mức độ hợp lý, chúng có thể gây ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính (Theo ISA 320). Trong quá trình tiến hành cuộc kiểm toán, kiểm toán viên cần đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tồn tại trong báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán hay không nhằm giúp kiểm toán viên thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận x t xác đáng về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Các hình thức gian lận báo cáo tài chính: Vấn đề gian lận nói chung đã gây ra rất nhiều thiệt hại cho nền kinh tế và các bên liên quan. Để hiểu rõ hơn chi phí mà nền kinh tế phải gánh chịu do gian lận và phương thức gian lận nào xuất hiện phổ biến nhất, nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra thống kê các hình thức gian lận.
Trong đó, nổi bật là các báo cáo về gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) và COSO (một Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC). Báo cáo về gian lận của ACFE: Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) ra đời vào năm 1988 và có thể nói, đây là tổ chức nghiên cứu và điều tra về gian lận có quy mô lớn nhất thế giới. Sau khi thành lập, ACFE đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu các trường hợp gian lận trên quy mô toàn nước Mỹ với việc gửi bảng câu hỏi cho các thành viên của Hiệp hội nhằm thu thập thông tin về các trường hợp về gian lận mà các thành viên này đã từng chứng kiến. Các cuộc nghiên cứu được thực hiện trong các năm 1993, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, mới đây nhất là năm 2014 được trình bày trong báo cáo có tên “Report to the Nations on Occupational Fraud and Abuse”.
Các báo cáo trình bày kết luận về một số vấn đề như: thiệt hại do gian lận, đặc điểm những người thực hiện gian lận, các phương thức thực hiện gian lận, cách phát hiện gian lận,… Theo phân loại của ACFE, gian lận gồm 3 hành vi: Biển thủ tài sản, tham ô và gian lận trên BCTC. Nghiên cứu qua các năm cho thấy, hành vi biển thủ tài sản chiếm tỷ lệ lớn xấp xỉ 90%, tham ô xấp xỉ 30%, gian lận trên BCTC với tỷ lệ 10% trở xuống. Tuy chiếm tỷ lệ thấp nhất nhưng gian lận BCTC lại gây nên thiệt hại kinh tế lớn nhất, số liệu tổn thất bình quân cho loại gian lận này theo báo cáo mới nhất năm 2014 của ACFE là 1.1 dưới đây thống kê các loại gian lận phổ biến và gian lận trên BCTC theo báo cáo 2014 của ACFE. 9 GIAN LẬN Tham ô Biển thủ tài sản Gian lận trên BCTC Khai khống tài Khai thiếu tài sản/doanh thu sản/doanh thu Sai niên độ Sai niên độ Khai thiếu Doanh thu giả mạo doanh thu Dấu công nợ, Khai tăng NPT, chi phí chi phí Đánh giá TS không Đánh giá TS không hợp lý hợp lý Công bố không đầy đủ Sơ đồ 2.
Các hình thức gian lận trên BCTC Gian lận trên BCTC có thể do việc khai khống hoặc khai thiếu. Khai thiếu doanh thu, ghi tăng chi phí chỉ khi doanh nghiệp muốn giảm nghĩa vụ thuế của mình. Ngược lại, đa số các trường hợp gian lận được tìm thấy đã thực hiện phóng đại doanh thu, lợi nhuận, tài sản, trong khi chi phí và các khoản phải trả lại bị che dấu nhằm tạo ra một bức tranh tài chính tốt đẹp cho công ty, nhằm thu hút nhà đầu tư và các nguồn tài trợ khác. Báo cáo về gian lận của COSO: 10 COSO (Committee of Sponsoring Organization) là một Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA) và Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA).
Đến nay, COSO đã thực hiện 3 dự án nghiên cứu lớn về gian lận trên BCTC được công bố trên các báo cáo vào các năm 1987, 1999 và 2010 với những kết luận chi tiết về: bản chất của hành vi gian lận, đặc điểm những công ty gian lận, hậu quả của hành vi gian lận,… Trong đó đặc biệt nhấn mạnh các kỹ thuật thực hiện gian lận BCTC. Trong báo cáo năm 2010, COSO phân tích 347 trường hợp gian lận BCTC của các công ty đại chúng ở Hoa Kỳ cho giai đoạn 10 năm từ 1998 – 2007. Hai kỹ thuật phổ biến nhất được sử dụng để gian lận BCTC là ghi nhận doanh thu không đúng với 61% trường hợp gian lận và khai cao tài sản với 51%.