chương 1, tác giả nêu ra vấn đề và chỉ ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, đưa ra cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, sau đó đưa mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, tiếp theo đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu tương ứng. Cuối cùng là đưa ra phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng và bố cục của khóa luận. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu liên quan Trong chương 2, tác sẽ trình các cở sở lý thuyết có liên quan tới bài nghiên cứu như là lý thuyết về an toàn vốn, cấu trúc vốn… dựa trên một số bài nghiên cứu có liên quan tới cấu trúc vốn ở trong và cả ngoài nước. Chƣơng 3: Mô hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Trong chương 3, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu.
Dựa vào các cở sở lý thuyết đã trình bày tác giả sẽ đưa ra giả thuyết và các kỳ vọng đối với từng biến. Tiếp theo đó trình bày và phân tích dữ liệu nghiên cứu để chỉ ra tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Trong chương 4, tác giả tóm tắt thực trạng tỉ số cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và thực hiện xử lý cơ bản các dữ liệu thu thập được như sau: thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan và đa cộng tuyến. Tiếp theo, tác giả sẽ ước lượng các mô hình đã đề cập ở chương trước và chọn ra mô hình phù hợp cho nghiên cứu.
Sau khi lựa chọn mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành kiểm định sai số của mô hình. Cuối cùng, sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS) khả thi để khắc phục những thiếu sót. Chƣơng 5: Kết quả và hàm ý chính sách Trong chương 5, đưa ra các kết luận và đề xuất một số hàm ý về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, còn nêu ra những thiếu sót và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo của nghiên cứu.
6 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chương này tác giả nêu ra vấn đề và chỉ ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, đưa ra cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, sau đó đưa mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, tiếp theo đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu tương ứng. Mô tả đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu là 31 doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết tại HOSE đối với 31 công ty trong ngành hàng tiêu dùng trong 11 năm, từ 2010 đến 2021. Cuối cùng, chỉ ra những đóng góp của đề tài và trình bày cấu trúc Bố cục của đề tài gồm 5 chương và nội dung chính của các chương riêng lẻ. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương 2, tác sẽ trình các cở sở lý thuyết có liên quan tới bài nghiên cứu như là lý thuyết về an toàn vốn, cấu trúc vốn… dựa trên một số bài nghiên cứu có liên quan tới cấu trúc vốn ở trong và cả ngoài nước.
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng 2. Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất và chế tạo sẽ đƣợc bán cho ngƣời tiêu dùng để họ sử dụng. Những hàng hóa mà ngƣời tiêu dùng đƣợc thấy lƣu trữ trên kệ hàng đƣợc gọi là hàng hóa tiêu dùng hay hàng hóa cuối cùng. Một số ví dụ về hàng tiêu dùng nhƣ là quần áo, kem đánh răng, dầu gọi, nữ trang.
“Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là những doanh nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc cung cấp hàng hóa trên thị trƣờng tiêu dùng. Đặc biệt là các loại hàng hóa thiết yếu cho nhu cầu sử dụng hàng ngày của ngƣời dân. Khái niệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Các nhà nghiên cứu trƣớc đây đã định nghĩa cấu trúc vốn theo nhiều cách khác nhau nhƣ là: Theo Damodaran (2001), “cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh.” Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), “cấu trúc vốn là mối quan hệ kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau trong doanh nghiệp và thƣờng là nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.” Theo Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2007), “cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thƣờng xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc sử dụng để tài trợ cho các quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp.” 8 Theo San & Heng (2011), “cấu trúc vốn là việc tài trợ cho tài sản từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đem lại sự tăng trƣởng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.” Theo Bùi Văn Thụy & Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2016), “cấu trúc vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của công ty. Khi cấu trúc vốn đƣợc tối ƣu, giá trị công ty là lớn nhất.” Tóm lại, một khái niệm tài chính nhằm thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn vay và vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc gọi là cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Các chỉ tiêu đo lƣờng cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc đo lƣờng trên ba tiêu chí là tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn, tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ số vốn tự có, có công thức tính nhƣ sau: Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn (TD) làm biến đo lƣờng cấu trúc vốn. Tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn thể hiện mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp, cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp đƣợc tài trợ bằng nợ. Tỷ số này càng thấp nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp ít phụ thuộc vào nợ để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngƣợc lại, khi tỷ số này càng cao thì mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ càng lớn.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2. Quan điểm về hiệu quả hoạt động “Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh khả năng kết hợp các nguồn lực đầu vào, cho phép tối thiểu hóa các chi phí trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt đƣợc mục tiêu sinh lời của doanh nghiệp. (Nguyễn Thị Tuyết Lan, 2019)” Hai vấn đề cần làm rõ từ khái niệm trên: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho tối thiểu hóa chi phí trong kinh doanh. Mục tiêu sinh lời không chỉ đơn thuần là lợi nhuận, mà bao gồm cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội mà doanh nghiệp mong muốn đạt đƣợc.
Các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp “Chỉ tiêu ROA cho biết công ty bỏ ra một đồng tài sản thì thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt. Chỉ tiêu này có thể đƣợc đo lƣờng bằng nhuận sau thuế chia tổng tài sản bình quân (Nguyễn Ngọc Quang, 2011).” Trong đó, lợi nhuận sau thuế thông thƣờng sẽ đƣợc lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. Tổng tài sản bình quân = (đầu kỳ + cuối kỳ)/2 “Chỉ tiêu ROE là chỉ tiêu cho biết một đồng vốn chủ sở hữu (CSH) đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt và nó đƣợc đo lƣờng bằng lợi nhuận sau thuế trên VCSH bình quân (Nguyễn Ngọc Quang, 2011).” Trong đó, lợi nhuận sau thuế lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. VCSH bình quần = (đầu kỳ + cuối kỳ)/2 10 2. Ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp “Với bất kỳ doanh nghiệp nào, một trong số các chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất là khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu tài chính này không vận động độc lập mà chịu ảnh hƣởng bởi nhiều nhân tố khác, trong đó có cấu trúc vốn.
Điều này khá dễ hiểu bởi một sự thay đổi về tỷ lệ vay nợ khiến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp thay đổi và dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thay đổi. Việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của doanh nghiệp mà mục tiêu này có thể ảnh hƣởng đến việc lựa chọn cách đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán và thị trƣờng vốn.” Nghiên cứu của Ma Jiahui (2015) cho thấy có tồn tại một mối quan hệ tƣơng tác giữa cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc niêm yết tại GEM với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này không thể giải thích bằng mô hình phƣơng trình đơn nhƣng đƣợc giải thích thông qua phƣơng trình đồng thời. Nghiên cứu của Pratheepkanth & Puwanenthiren (2011) cho thấy cho thấy mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu cực, phản ánh mức độ không đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh tại Sri Lanka do các doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào nợ và họ phải trả chi phí lãi nhiều.
Tóm lại, cấu trúc vốn có ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động. Cho nên, việc chỉ ra đƣợc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bị tác động bởi cấu trúc vốn sẽ tạo ra đƣợc bằng chứng rõ ràng nhất về hệ quả của hai đối tƣợng này. Các lý thuyết có liên quan 2. Lý thuyết M&M về cấu trúc vốn Lý thuyết M&M (1958) của Modigliani và Miller nhận định rằng “cấu trúc vốn không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trƣờng hoàn hảo.
Nghĩa là trong môi trƣờng có thông tin cân xứng, lãi suất vay bằng lãi suất phi rủi ro, không có chi phí giao dịch, không thuế… doanh nghiệp có sử dụng nợ hay không sử dụng nợ thì giá trị doanh nghiệp vẫn không đổi.” Do đó, không tồn tại cấu trúc vốn tối ƣu cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, giả định về một thị trƣờng hoàn hảo là không phù 11 hợp với hoạt động của doanh nghiệp trong thực tế. Vì thế, các nhà nghiên cứu mở rộng đƣa ra giả định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị tác động của cấu trúc vốn trong môi trƣờng thực tế.