Chương 1:Giới thiệu. 3 Chương 2: Các nghiên cứu trước đây. Chương 3:Phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và nhận xét kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Rút ra kết luận và hạn chế của luận văn. 4 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.Lý thuyết về sở hữu: 2. Lý thuyết đại diện: Lý thuyết đại diện được khởi xướng bởi Michael C. Jensen và William H.
Trong nghiên cứu này, chi phí đại diện được định nghĩa là tổng các chi phí: - Chi phí kiểm soát(Monitoring Expenditure): là chi phí được trả cho các kiểm soát viên nhằm báo động cho các cổ đông khi các nhà quản lý trục lợi cho bản thân họ quá nhiều. - Chi phí giao kèo (Bonding Expenditure): là chi phí nhằm ngăn ngừa những hậu quả xấu có thể xảy ra từ những hành động thiếu trung thực của các nhà quản lý. -Tổn thất lợi ích ( Residual Loss hay Welfare Loss): là những tổn thất xảy ra do sự khác biệt giữa những quyết định trên thực tế của các nhà quản lý và những quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông. Một nghiên cứu lý thuyết khác về chi phí đại diện và cấu trúc quyền sở hữu được thực hiện bởi Fama và Jensen(1983).
Nghiên cứu này kết luận rằng trong một công ty có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát, nói cách khác là người sở hữu thực sự của công ty không tham gia vào việc quản lý công ty, chi phí đại diện sẽ xuất hiện vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông. Nhà quản lý có nhiều thông tin hơn về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân họ. Lý thuyết quản lý: Lý thuyết quản lý được khởi xướng bởi Lex Donaldson và Jame H. Davis (1990), ngược lại với lý thuyết đại diện, lý thuyết quản lý cho rằng người quản lý điều hành - GĐĐH về cơ bản luôn muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, quản lý thật tốt tài sản của 5 công ty.
Lý thuyết quản lý đề cập đến vấn đề động lực của nhà quản lý và cho rằng thành quả công ty khác nhau là do tình trạng cấu trúc quản trị, trong đó GĐĐH có được tạo điều kiện để làm việc hiệu quả hay không. Lý thuyết này cho rằng việc kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và GĐĐH sẽ tối đa hóa lợi ích của cổ đông vì nó làm tăng quyền lực của GĐĐH , giúp GĐĐH dễ dàng quyết định các vấn đề cấp bách một cách nhanh chóng mà không phải thông qua nhiều bên liên quan. Lý thuyết quản trị công ty: Có nhiều định nghĩa về " Corporate governance" (quản trị công ty hay điều hành công ty) tùy thuộc vào các tác giả, thể chế pháp lý, các quy định cũng như môi trường tổ chức. Nhưng nhìn chung, quản trị công ty được hiểu theo ý nghĩa khái quát sau: Theo " các nguyên tắc quản trị công ty" của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) xuất bản năm 1999 thì quản trị công ty là hệ thống người ta xây dựng để điều khiển và kiểm soát doanh nghiệp.
Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như HĐQT, giám đốc, cổ đông và những chủ thể khác có liên quan. Cấu trúc quản trị công ty cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục đề ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, cấu trúc quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc. Theo Shleifer và Vishny (1997) "Quản trị công ty giải quyết vấn đề mà các nhà đầu tư tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình" Theo Denis và McConnell (2003), quản trị công ty là thiết lập cơ chế nhằm kiểm soát tính tự lợi của những người điều hành để họ đưa ra những quyết định có thể tối đa hóa giá trị của công ty cho cổ đông.
6 Tóm lại, ta có thể hiểu rằng quản trị công ty là phương thức mà cổ đông sử dụng quyền và nghĩa vụ của mình để quản lý một cách hiệu quả nhất tình hình hoạt động và phân phối quyền lợi công ty.Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty tại các quốc gia. EmmaGarcía‐Meca vàJuan Pedro Sánchez‐Ballesta. Các mẫu quan sát được lấy ra từ các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Madrid trong thời gian 1999-2002.Cụ thể số quan sát như sau : 54 quan sát (1999), 65 quan sát (2000), 67 quan sát (2001), 68 quan sát ( 2002 ). Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội với biến phụ thuộc là Tobin's Q.
Các biến độc lập bao gồm : sở hữu tập trung, sở hữu hội đồng và sở hữu nhà nước. Các biến kiểm soát bao gồm : Sale (tính bằng log (Doanh thu), Lev (tỉ lệ nợ trên tổng tài sản) và Intan (tính bằng phép chia của tài sản vô hình cho tổng tài sản). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quyền sở hữu tập trung có tác động cùng chiều đối với hiệu quả hoạt động công ty, nhưng khi nó tăng vượt quá một mức nhất định, ảnh hưởng trở nên tác động ngược chiều. Tuy nhiên,sở hữu hội đồng và quyền sở hữu nhà nước có mối quan hệ cùng chiều đáng kể với hiệu quả hoạt động công ty.
Amira Turki và cộng sự(2012) đã tiến hành một nghiên cứu về mối quan hệ của quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt độngtại thị trường Tunisia. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân đối của 23 công ty phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tunisia trong thời gian 1998-2009. Tác giả sửa dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) với biến phụ thuộc là ROA và ROE. Các biến độc lập bao gồm : sở hữu tập trung, sở hữu hội đồng.
Các biến kiểm soát bao gồm boardsize (quy mô ban giám đốc), quy mô công ty ( logarit tổng tài sản), chỉ số 7 thanh khoản, Lev (tỉ lệ nợ trên tổng tài sản) và biến giả CEO ( 1 nếu giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị là hai người khác nhau, 0 nếu giám đốc kiêm luôn chức vụ chủ tịch hội đồng quản trị). Kết quả nghiên cứu này cho thấy quyền sở hữu tập trung có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động công ty với mức ý nghĩa 1%. Nhưng sở hữu hội đồng tác động cùng chiều với cả hai biến ROA và ROE với mức ý nghĩa 5%. Bên cạnh đó hai biến boardsize và tỷ lệ nợ có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động của công ty với mức ý nghĩa 10%.
Ngoài ra biến quy mô công ty có tác động cùng chiều với biến hiệu quả hoạt động của công ty với mức ý nghĩa 10%. Wei, Xie và Zhang. (2005) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và giá trị công ty ở các công ty tư nhân ở Trung Quốc, mẫu nghiên cứu bao gồm 5,284 quan sát công ty– năm với thời gian nghiên cứu từ 1991 đến 2001. Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy OLS với biến phụ thuộc là Tobin's Q.Các biến độc lập bao gồm : sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu hội đồng.
Biến kiểm soát là quy mô công ty và các biến giả ngành. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy thành phần sởhữu nhà nướcvà sở hữu hội đồng có tác động ngược chiều với mức ý nghĩa 1% lên giá trị công ty (được đo lường bằng tỷ số Tobin’s Q), nghĩa là sự tăng lên trong thành phần sở hữu tổ chức và sở hữu nhà nước sẽ làm giảm giá trị công ty. Bên cạnh đó, sởhữu nước ngoài có tác động cùng chiều có ý nghĩa lên giá trị công ty. Bita Mashayekhi và Mohammad S.
Các mẫu quan sát được lấy ra từ 240 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran (TSE) trong thời gian 2005- 2006. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy OLS với biến phụ thuộc là EPS, ROA và ROE. Các biến độc lập bao gồm: Bsize (quy mô ban giám đốc), Boardleadership, 8 Bout (tỷ lệ phần trăm số giám đốc độc lập trong ban điều hành công ty), Bins ( tỷ lệ phần trăm số giám đốc trong ban điều hành của công ty). Các biến kiểm soát gồm: Age (tuổi của công ty), size (quy mô công ty), lev (tỉ lệ nợ trên tổng tài sản) Kết quả bài nghiên cứu cho thấy quy mô ban giám đốc(bsize) có tác động ngược chiều với mức ý nghĩa 1% lên giá trị công ty (được đo lường bằng tỷ số ROA và ROE).
Bên cạnh đó, quy mô công ty có tác động cùng chiều có ý nghĩa lên ROA và ROE với mức ý nghĩa 5%. Sami, Wang và Zhou (2009)nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và thành quả hoạt động của các công ty được niêm yết ở Trung Quốc với khoảng thời gian nghiên cứu từ 2001 - 2004, với thành quả công ty được đo lường thông qua ROA, ROE và hệ số Tobin’s. Các biến độc lập bao gồm : sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tập trung và sở hữu hội đồng. Các biến độc lập bao gồm : quy mô công ty, cường độ vốn (giá trị sổ sách của tài sản hữu hình chia cho doanh thu, tỉ lệ nợ,hệ số biên lợi nhuận hoạt động.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu tập trung và tính độc lập của hội đồng quản trị có tác động cùng chiều lên thành quả và giá trị công ty. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy giá trị công ty cùng chiều với sở hữu nước ngoài và thành quả công ty ngược chiều với sở hữu nhà nước. Warrad và các cộng sự (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự cấu trúc sở hữu và thành quả công ty, với thành quả công ty được đo lường thông qua ROA và Tobin’s Q (đo lường của giá trị công ty) tại thị trường Jordan. Mẫu nghiên cứu bao gồm tất cả các công ty phi tài chính được niêm yết ở Jordanian trên thời kỳ nghiên cứu từ 1994 đến 2005.
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy OLS với biến phụ thuộc là Tobin's Q, ROA. Biến độc lập gồm: sở hữu cá nhân, sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước và sở hữu gia đình. Biến kiểm soát gồm: quy mô công ty, tỉ lệ nợ.