Chương 1 đã đưa ra tính cấp thiết để thực hiện đề tài nghiên cứu, xác định các mục tiêu nghiên cứu từ đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, bên cạnh đó trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, các kết quả đóng góp và kết cấu của đề tài. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khái niệm cấu trúc vốn Đối với Mesquita và Lara (2003) thì cấu trúc vốn là sự lựa chọn giữa tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu, sự lựa chọn này có thể ảnh hưởng đến giá trị của công ty tương tự như tỷ suất sinh lời. Theo Abor (2005) thì cấu trúc vốn của một công ty thực chất là sự kết hợp của nhiều loại chứng khoán khác nhau và có vô số sự kết hợp.
Một công ty có thể lựa chọn trong số nhiều cơ cấu vốn, có thể phát hành một số lượng nợ lớn hoặc rất ít nợ. Công ty có thể thu xếp cho thuê tài chính, sử dụng chứng quyền, phát hành trái phiếu chuyển đổi, ký hợp đồng kỳ hạn hoặc giao dịch hoán đổi trái phiếu. Grill (2011) đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn mà công ty sử dụng thực chất là sự kết hợp giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu trong hoạt động của mình. Nợ, vốn chủ sở hữu chính là hai nguồn tài chính cung cấp cho một doanh nghiệp.
Các chủ nợ thường ít có quyền kiểm soát hơn đối với Công ty và sẽ không can thiệp nhiều vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, cấu trúc vốn của một doanh nghiệp thể hiện mối tương quan về tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Giá trị của một doanh nghiệp có thể tính toán bằng cách lấy hiện giá các dòng tiền tự do của doanh nghiệp đó trong tương lai với suất chiết khấu là chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp. Từ đó ta thấy việc biết được tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và điều chỉnh nó một cách phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí vốn và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không có một cấu trúc vốn hoàn hảo phù hợp cho tất cả các doanh nghiệp bởi có sự khác nhau về nhu cầu vốn giữa các ngành nghề: các ngành về sản xuất, đầu tư, xây dựng từ lúc ban đầu sẽ cần nhiều vốn hơn các doanh nghiệp công nghệ, thương mại; khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp đó: doanh nghiệp non trẻ, 9 mới khởi nghiệp thì sẽ cần nhiều vốn hơn doanh nghiệp đã phát triển, có dòng tiền ổn định. Một số chỉ tiêu để đo lường cấu trúc vốn bao gồm: Hệ số nợ = Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn (nếu hệ số lớn hơn 0.5 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ); Hệ số tự tài trợ = VCSH/Tổng nguồn vốn (nếu hệ số lớn hơn 0.5 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về VCSH); Hệ số nợ trên VCSH = Nợ/VCSH (nếu hệ số lớn hơn 1 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ); Hệ số đòn bẩy tài chính = Tổng nguồn vốn/VCSH (nếu lớn hơn 2 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ). Sự khác biệt giữa Nợ và Vốn chủ sở hữu STT Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu 1 Thời hạn hoàn trả Có thời hạn Không có thời hạn Chia lãi dựa vào Trách nhiệm 2 Phải trả lãi KQKD và chính sách thanh toán phân phối lợi nhuận DN có nguy cơ phá sản DN không bị phá sản 3 Áp lực thanh toán nếu không trả được lãi nếu không chia lãi và gốc vay Khả năng tiết kiệm 4 Giảm thuế phải nộp Không làm giảm thuế. thuế TNDN Chi phí sử dụng 5 Thấp Cao.
vốn Không làm thay đổi cơ Làm thay đổi cơ cấu Mức độ ảnh hưởng cấu VCSH, bảo vệ VCSH, ảnh hưởng đến 6 tới quyền kiểm soát được quyền lợi của quyền lợi của CSH DN CSH hiện tại hiện tại 10 Nguồn: Tác giả tổng hợp 2. Khái niệm hiệu quả của doanh nghiệp Adam Smith (1776) cho rằng doanh thu tiêu thụ hàng hóa chính là kết quả cũng như hiệu quả trong hoạt động kinh tế; điều này chưa phù hợp với khái niệm hiệu quả khi chưa xem xét đến các yếu tố đầu vào. Theo Samuelson và Nordhaus (1985) đề cập đến việc hiệu quả sản xuất khi các nguồn lực của xã hội được phân bổ nằm trên đường giới hạn sản xuất thì nền kinh tế sẽ đạt hiệu quả cao. Trong cuốn giáo trình Kinh tế thương mại dịch vụ – NXB Thống Kê 1998 thì cho rằng trình độ tận dụng các nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đã xác định chính là hiệu quả kinh tế.
Từ các nghiên cứu trên, ta thấy khi nói đến hiệu quả của doanh nghiệp là nói đến sự tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp đạt được và phương tiện mà doanh nghiệp bỏ ra để tạo được kết quả đó. Trong một doanh nghiệp, để tính toán được hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ sử dụng những đại lượng có thể đo lường được như các loại doanh thu hoặc tổng doanh thu, các loại chi phí hoặc tổng chi phí để tính ra được con số lợi nhuận theo yêu cầu như lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, lợi nhuận sau thuế. Cùng với các đại lượng phía trên, thì nền tảng, phương tiện để doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động của mình là nhờ vào tài sản của doanh nghiệp, giá trị các khoản đầu tư, các khoản nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu để duy trì luồng tiền lưu thông trong doanh nghiệp. Việc xác định hiệu quả của doanh nghiệp sẽ được tính toán trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường các dữ liệu sẽ được lấy trong vòng 1 năm.
Mỗi một doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, nền kinh tế muốn mạnh thì cần phải có tế bào tốt. Một doanh nghiệp có hiệu quả cao, chính là tế bào tốt trong trường hợp này. Doanh nghiệp có hiệu quả cao chứng tỏ có khả năng tạo sản phẩm, của cải vật chất, dịch vụ cung cấp cho xã hội, tạo môi trường tốt cho người lao động làm việc. Nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển.
Doanh nghiệp có hiệu quả cao minh chứng cho việc doanh nghiệp biết tối đa hóa lợi ích từ nguồn lực có được trong việc tạo ra lợi nhuận. 11 Hiện nay có rất nhiều chỉ số để đo lường hiệu quả của doanh nghiệp về nhiều mặt hoạt động, tùy thuộc vào nhu cầu phân tích của nhà quản trị là có thể lựa chọn chỉ tiêu phù hợp. Tuy nhiên khi phân tích đến lợi nhuận của doanh nghiệp thì hai chỉ tiêu được quan tâm nhiều nhất đó chính là Tỷ lệ tạo ra lợi nhuận trên Tổng tài sản (ROA) và Tỷ lệ tạo ra lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (ROE). Tỷ số ROA là viết tắt của Return On Assets.
Tỷ số này cho biết nhà điều hành đã làm được gì với số tài sản đã bỏ ra. Tỷ số này sẽ tính toán bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho tổng tài sản bình quân. Các nhà đầu tư sẽ biết doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng tài sản đã đầu tư. Tỷ số này càng lớn thì việc sử dụng tài sản càng hiệu quả.
Tỷ số ROE là viết tắt của Return on Equity. Tỷ số này dành được sự quan tâm nhiều nhất từ các nhà đầu tư. Tỷ số này sẽ tính toán bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng vốn chủ sở hữu bình quân. Các nhà đầu tư có thể biết được một đồng vốn mình bỏ ra đã mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ số này càng lớn thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư bởi nó làm gia tăng sự giàu có của các nhà đầu tư, phản ánh trực tiếp số lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư sẽ thu được khi đầu tư vào doanh nghiệp này. Nasimi (2016) sử dụng chỉ số ROA, ROE để đo lường hiệu quả hoạt động của 30 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán London đều nằm trong chỉ số FTSE-100. Ali và Faisal (2020) đo lường hiệu quả hoạt động của một tổ chức dựa trên nguồn lực của mình bằng cách thiết lập mối quan hệ giữa lợi nhuận và tổng tài sản (ROA) hoặc lợi nhuận và vốn chủ sở hữu (ROE). Một số nghiên cứu (Hutchinson và Gul, 2004; Javeed và cộng sự, 2020) báo cáo rằng các phương pháp đo lường dựa trên nền tảng kế toán tài chính phù hợp nhất cho nghiên cứu quản trị doanh nghiệp vì chúng có thể dễ dàng theo dõi khả năng quản lý giá trị của công ty.
ROA cho biết hiệu quả sản xuất của công ty liên quan đến quản lý sử dụng tài sản, do đó Javeed và cộng sự (2020) đã đưa vào bài nghiên cứu tính toán ROA theo tỷ lệ lợi nhuận ròng của công ty trên tổng tài sản. ROE chủ yếu được sử dụng cho các nghiên cứu liên quan đến 12 quản trị công ty. Theo quan điểm của các cổ đông, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đã kiểm tra tốt hơn hiệu quả kinh doanh của công ty (Brown và Caylor, 2009) Cả ROA và ROE là hai tỷ suất sinh lời rất quan trọng làm thước đo thành công của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản và nguồn vốn để tạo ra lợi nhuận. Muốn đánh giá doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả không, chúng ta cần phân tích hai tỷ suất này một lúc bởi ROA và ROE có mối liên hệ mật thiết, liên quan đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu như khái niệm đã đề cập phía trên.
ROA tương quan với tổng tài sản, ROE tương quan với Vốn chủ sở hữu và theo nguyên tắc kế toán thì Tổng tài sản = Tổng nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu. Các lý thuyết về cấu trúc vốn 2. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modiligani và Miller (M&M) Trong nghiên cứu “Chi phí vốn, tài chính doanh nghiệp và lý thuyết đầu tư” năm 1958, Franco Modigliani và Merton Miller đã đoạt được giải Nobel danh giá, làm nền tảng cho những lý thuyết quan trọng nhất đối với cấu trúc vốn sau này, qua đó họ giải thích cấu trúc vốn ảnh hưởng thế nào đối với giá trị của các công ty.