chương 1 trình bày cấu trúc của luận văn gồm 5 chương và nội dung chính của mỗi chương. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC VỐN 2. Khái niệm về cấu trúc vốn “Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho họat động của doanh nghiệp” (Berkman và cộng sự, 2016).
Định nghĩa về cấu trúc vốn tối ưu: “Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tại cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tổng giá trị doanh nghiệp là lớn nhất” (Berkman và cộng sự, 2016). Định nghĩa về cấu trúc vốn mục tiêu: Là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường mà doanh nghiệp lên kế họach để huy động vốn” (Rao và cộng sự, 2007). Thuật ngữ đòn bẩy tài chính nói đến việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn.
Vì thế thuật ngữ “đòn bẩy tài chính” cùng nghĩa với thuật ngữ “cấu trúc vốn”. Cũng theo các tác giả này cấu trúc vốn tối ưu cũng được xem là cấu trúc vốn mục tiêu (Ross và cộng sự, 2013). Tại Việt Nam, ngoài vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn thì phần lớn các doanh nghiệp sử dụng nợ vay ngắn hạn trong cấu trúc vốn của mình. Khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp ở Việt Nam có thể khái quát là chỉ việc sử dụng nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho họat động của doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn mục tiêu là cấu trúc vốn mà doanh nghiệp hướng đến nhằm cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc tài trợ bằng nợ vay. Ý nghĩa của cấu trúc vốn trong doanh nghiệp Tại bất kì doanh nghiệp nào, vốn được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận, tăng thêm giá trị của doanh nghiệp. Việc huy động vốn một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp 8 có thể gánh chịu những rủi ro về tài chính. Vì thế, để có thể huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, giảm thiểu được rủi ro tài chính, chi phí sử dụng vốn, doanh nghiệp phải xác định cho mình một cấu trúc vốn hợp lý.
Công cụ mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp không thể không quan tâm khi quyết cơ cấu vốn của doanh nghiệp đó là đòn bẩy tài chính. Sử dụng đòn bẩy tài chính đúng cách sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đáng kể. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những rủi ro khó tránh khỏi. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp.
Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra lá chắn thuế cho doanh nghiệp, đồng thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý. Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thẩm chí dẫn đến việc đóng cửa của doanh nghiệp. Tài trợ vốn góp cổ phần không tạo ra chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cổ đông có thể can thiệp vào họat động điều hành của doanh nghiệp.
Kỳ vọng cao vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kể của nhà quản lý. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan đến tới doanh nghiệp và họat động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Các thành phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Các nguồn vốn tài trợ cho một doanh nghiệp được chia thành hai loại: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Nợ phải trả của doanh nghiệp: Bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm. Nợ ngắn hạn thường có chi phí vốn thấp nhưng thường tạo ra một áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp và để đầu tư vào các tài sản ngắn hạn. Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: tín phiếu thương mại, vay ngắn hạn ngân hàng. 9 Nợ dài hạn là nguồn vốn công ty có thể huy động được dưới hình thức nợ vay có thời hạn trên một năm.
Nguồn vốn này không chỉ bao gồm nợ vay ngân hàng mà còn mà còn bao gồm cả nợ huy động thị trường vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu. Trên thị trường vốn, nợ dài hạn là một cam kết của công ty đi vay sẽ trả lại vốn gốc vào một ngày nhất định. Một cam kết nợ dài hạn thường bao gồm những nội dung sau: Số tiền gốc hay mệnh giá của khoản vay; Lãi suất và cách thức trả lãi; Thời hạn của khoản vay; Các điều khoản khác. Nguồn vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn do chủ sở hữu đóng góp vào hoặc lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu nhưng chưa được phân chia mà giữ lại cho mục đích tái đầu tư, nguồn kinh phí và các quỹ.
Tùy theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu có tên gọi khác nhau, trong công ty cổ phần vốn chủ sở hữu chính là cổ đông, do cổ đông góp vào dưới hình thức cổ phần, thường gọi là vốn cổ phần, lợi nhuận thuộc về cổ đông nhưng được công ty giữ lại tái đầu tư, nguồn kinh phí và các quỹ. Vốn cổ phần còn được chia thành vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường hay vốn cổ phần phổ thông. CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP 2. Lý thuyết về cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống Nghiên cứu của Durand (1952), là công trình đầu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp với các giả định như sau: Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thị trường tài chính là không hoàn hảo. Doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ. Tuy nhiên, nếu mức độ sử dụng nợ thấp thì chủ sở hữu và chủ nợ có thể không điều chỉnh suất sinh lời kỳ vọng, hoặc có điều chỉnh nhưng không đáng kể. Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống khẳng định rằng: Khi một doanh nghiệp bắt đầu vay nợ, nợ vay thường có chi phí rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu.
Với chi phí nợ thấp, kết hợp với lợi ích từ lá chắn thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng, doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn bất lợi. 10 Tuy nhiên, khi doanh nghiệp tăng tỷ lệ giữa vốn vay so với vốn chủ sở hữu cũng khiến mức độ rủi ro tăng theo, buộc các chủ sở hữu phải tăng tỉ suất sinh lời. Do đó, làm giảm giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, ở mức tỷ lệ nợ vay cao khiến cho doanh nghiệp có nguy cơ phá sản vì doanh nghiệp không có khả năng trả nợ.
Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC sẽ tăng. Theo lý thuyết này, tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu làm tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và giúp tối thiểu hoá WACC.1: Cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống Nguồn: Durand (1952) Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ. Vì vậy, Lý thuyết M&M ra đời trên cơ sở cung cấp bằng chứng cũng như bổ sung thêm những khiếm khuyết mà quan điểm này còn thiết sót (Bringham và Houston, 2009). Lý thuyết về cơ cấu nguồn vốn hiện đại (Lý thuyết M&M) Trái với quan điểm truyền thống, hai tác giả Modilligani và Miller (1958) đã đưa ra lý thuyết mối quan hệ giữa nguồn vốn và giá trị doanh nghiệp.
Để tìm hiểu xem giá 11 trị vốn tăng hay giảm khi doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Hai tác giả đã đưa ra giả định sau đây: Không có thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân). Không có chi phí: giao dịch, khốn khó tài chính và phá sản. Tất cả các nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp đều lãi suất vay như nhau.
Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Lý thuyết M&M được phát biểu thành 2 mệnh đề quan trọng: Mệnh đề (I) - Giá trị của doanh nghiệp và Mệnh đề (II) - Chi phí sử dụng vốn. Hai mệnh đề lần lượt được xem xét trong hai trường hợp: có thuế và không có thuế. Trong điều kiện có thuế: giá trị của doanh nghiệp tăng khi doanh nghiệp sử dụng nợ nhờ hưởng lợi ích từ lá chắn thuế.
Giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ đúng bằng hiện giá khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Mức độ sử dụng nợ tăng lên trong khi chi phí sử dụng nợ giảm, từ đó WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ thấp hơn WACC doanh nghiệp không sử dụng nợ.1) Trong đó T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; D: giá trị của nợ vay 12 Hình 2.2: Giá trị của doanh nghiệp theo lý thuyết M&M khi có thuế Nguồn: Modigliani và Miller (1963) Như vậy, theo mô hình thuế Modigliani và Miller (1963) Cơ cấu vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ. Được biểu diễn bằng công thức: rE = rU + (rU – rD) * D/E (2.2) Trong điều kiện có thuế: nếu có thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bầy tài chính hay tỉ số nợ (D/E), nhưng mối quan hệ được biểu diễn bởi: rE= rU + (rU – rD) * D/E *(1-t) (2.3) Mặc dù Lý thuyết M&M đưa ra nhiều góc nhìn khác nhau về tác động của CTV đến giá trị doanh nghiệp và WACC, nhưng các giả định trên khó có thể xảy ra nên đã hạn chế ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực tế.
Đây là cơ sở cho sự ra đời của các lý thuyết hiện đại sau này.