CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, tác giả nhận thấy phần đa các nghiên cứu về chủ đề ảnh hưởng của CTV đến HQKD của DN đều đưa ra kết quả tương tự nhau, tuy nhiên vẫn có một số ít nghiên cứu đưa ra kết luận ngược lại. Hai tác giả Michael & Babajide (2021) nghiên cứu về 18 DN thuộc ngành sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Nigeria (SGDCK).
Nghiên cứu sử dung 4 biến phụ thuộc để đại diện cho HQKD, lần lượt là ROE, ROA, EPS, Tobin’s Q. Các biến độc lập liên quan đến CTV bao gồm nợ ngắn hạn STD, nợ dài hạn LTD, tỷ lệ nợ TD, tăng trưởng GR và 1 biến kiếm soát là biến quy mô SIZE. Trong đó, các biến SIZE và GR có tương quan dương với ROA. Ngược lại, các biến như STD, LTD có quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với ROA.
Tác giá đánh giá CTV không đủ để giải thích cho biến ROA điều này tương đồng với lý thuyết M&M. Mặt khác, tác giả nhận thấy các biến CTV có ảnh hưởng ngược biến với các chỉ tiêu ROE, Tobin’s Q và EPS. Biến GR có ảnh hưởng đồng biến đến ROE. Ngược lại, biến SIZE không có ý nghĩa thống kê với ROE và Tobin’s Q.
Nhìn chung, cấu trúc vốn có ảnh hưởng ngược chiều với hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu của học giả Akinyomi (2013) về các DN lĩnh vực sản xuất tại Nigeria từ năm 2007 đến 2011 bao gồm 2 biến phụ thuộc ROA, ROE đại diện cho HQKD và 5 biến độc lập lần lượt là Nợ dài hạn trên vốn LDC, Nợ trên vốn DC, Nợ trên vốn chủ sở hữu chung DCE, Nợ ngắn hạn trên tổng nợ SDTD, Sô năm hoạt động AGE (biến kiểm soát). Đối với ROE, thì các biến DC, DCE, SDTD và AGE có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều. Ngược lại, biến LDC có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể với ROE.
Tác giả có kết luận tương đồng với biến ROA. Trong nghiên cứu Appah, Okoroafor & Bariweni (2013) về 32 DN niêm yết trên SGDCK Nigeria bao gồm 2 biến phụ thuộc ROA, ROE và 3 biến độc lập bao gồm Tổng nợ (TD), Nợ ngắn hạn (STD), nợ dài hạn (LTD) và 4 biến kiểm soát bao gồm tính hữu hình (TAN), tính thanh khoản (LIQ), lá chắn thuế từ khấu hao (NTD) và tính hiệu quả (EFF). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biến STD, LTD, TD, NTD và LIQ có mối quan hệ ngược chiều đáng kể với ROE, ROA. Ngược lại nhóm biến TAN, 4 EFF có tác động ngược chiều đối với HQKD.
Nghiên cứu kết luận rằng CTV ảnh hưởng đến HQKD của DN. Nghiên cứu kết luận rằng CTV ảnh hưởng đến HQKD của DN. Nghiên cứu của Saeed & Badar (2013) về 10 DN ngành thực phẩm niêm yết trên TTCK Karachi trong thời gian 5 năm từ 2007 đến 2011 cho thấy nợ vay dài hạn có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến HQKD của công ty, ngược lại, tỷ trọng sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tăng lên thì HQKD của DN đó càng có xu hướng giảm dần. Tác giả đưa ra khuyến nghị rằng DN nên sử dụng nhiều khoản nợ vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu hằng ngày.
Mumtaz & Zanetti (2013) cho thấy CTV có tác động ngược chiều đáng kể với HQKD của DN. Onaolapo & Kajola (2010) cũng đưa ra phát hiện tương đồng với nghiên cứu của Mumtaz & Zanetti (2013), đó là CTV được đại diện bởi biến tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến HQKD của 30 công ty phi tài chính trong giai đoạn 7 năm từ 2001 đến 2007. Nghiên cứu của Salteh & cộng sự (2012) về 380 doanh nghiệp phi tài chính trên SGDCK Karachi cho thấy nợ ngắn hạn và nợ dài hạn ảnh hưởng ngược chiều với ROA và EPS. Bên cạnh đó, ROE có mối quan hệ ngược chiều với các biến CTV, ngoại trừ nợ dài hạn là không có ảnh hưởng đáng kể đến ROE.
Quy mô và tăng trưởng tài sản của công ty được phát hiện là có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động nói chung. Ngược lại, tăng trưởng doanh số bán hàng (SALG) có tác động tiêu cực đáng kể đến chỉ số ROA. Muritala (2012) nhận định ROA và tỷ lệ vòng quay tài sản (TURN) có tác động cùng chiều với nhau với mức ý nghĩa là 1%. Ngược lại mối quan hệ giữa ROA và tài sản cố định (TSCĐ) là tiêu cực với mức ý nghĩa 1%.
Quy mô công ty SIZE có ảnh hưởng cùng chiều với ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, ROE và TURN, AGE, và SIZE có quan hệ cùng chiều với mức ý nghĩa 1%. Điều này chỉ ra rằng tỷ lệ tài sản hữu hình càng cao thì hiệu quả tài chính càng thấp. mối quan hệ giữa ROE và các biến tài sản hữu hình và cơ hội tăng trưởng là cùng chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê.
5 Ahmad & cộng sự (2012) nghiên cứu 58 DN Malaysia đã niêm yết thuộc ngành tiêu dùng và công nghiệp trong thời gian từ 2005 đến 2010. HQKD được thể hiện qua hai biến ROA và ROE. Biến độc lập bao gồm tổng nợ DT, nợ ngắn hạn STD, nợ dài hạn LTD, quy mô SIZE, tăng trưởng tài sản AG, tăng trưởng doanh thu SG và tính hiệu quả EFF. Nghiên cứu đưa ra kết luận DT, STD và LTD đều có tác động đáng kể với biến ROE.
Tác giả khuyến nghị nên tăng tỷ trọng nợ ngắn hạn vì chi phí huy động vốn của nợ ngắn hạn ở Malaysia tương đối thấp khi so với chi phí huy động vốn bằng nợ dài hạn. Chỉ có biến STD và TD có ảnh hưởng đáng kể đến ROA. Các biến trễ như STD t-1, STD t-2, TD t-1, TD t-2 không có ý nghĩa thống kê cả hai chỉ tiêu hiệu quả hoạt động, tức là khoản nợ từ một năm trước và hai năm trước không tác động đến hiện tại. Đối với ROA, các biến SIZE, AG, EFF có tác động đến biến độc lập này, trong khi đó SG không có tác động.
Đối với chỉ số ROE, chỉ có AG và EFF mới tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu trong nước Có rất nhiều học giả Viêt Nam quan tâm và nghiên cứu về tác động của CTV đến HQKD trên các công ty thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Le & Phung (2013) tìm ra rằng CTV có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến hoạt động của các DN niêm yết trên SGDCK TP.HCM trong thời gian 4 năm từ 2008 đến năm 2011. Trong nghiên cứu của các tác giả Bùi & Nguyễn (2016) về 427 DN được niêm yết trên HSX và HNX trong giai đoạn 2010-2014, HQKD được đo lường bằng Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE và Tỷ suất Q của Tobin TOBIN-Q.
Các biến tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản STD, Tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản LTD, Tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản TD, Quy mô công ty SIZE, Tăng trưởng tổng tài sản GROWTH có tác động đến cả 2 biến ROE và Tobin’s Q. SIZE và GROWTH có quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa thống kê với ROE. Ngược lại LTD, TD có tác động ngược chiều đáng kể với ROE. Biến STD có mối quan hệ nghịch biến với ROE và không có ý nghĩa thống kê.
Đối với biến độc lập TOBIN_Q, các biến SIZE, STD có quan hệ đồng biến và có ý nghĩa thống kê. Các biến còn lại đều có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tiêu cực đến TOBIN_Q. 6 Trần & cộng sự (2017) tiến hành nghiên cứu 130 công ty cổ phần (CTCP) ở Thừa Thiên Huế trong thời gian từ 2010 đến 2014 thông qua mô hình Pooled OLS, REM, FEM. Nghiên cứu chỉ ra rằng cơ cấu vốn có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động được đại diện bởi ba chỉ tiêu ROE, ROA và EPS.
Trong đó, biến Tổng nợ trên tổng tài sản TDTA có quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với cả 3 biến phụ thuộc. Biến Quy mô SIZE có tác động thuận chiều đến chỉ tiêu ROA, EPS và có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, biến Tốc độ tăng trưởng GROWTH và biến cấu trúc tài sản AST có tác động nghịch biến và có ý nghĩa với biến ROE và ROA. Nhóm tác giả đưa ra khuyến nghị DN cần cân nhắc giảm bớt tỷ lệ nợ trong CTV cũng như cần tận dụng lợi thế về quy mô DN.
Hơn thế nữa, để tránh làm giảm HQKD của DN đang có cơ hội tăng trưởng cao, DN cần cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu và chủ nợ. Tác giả Đỗ & Đàm (2019) nghiên cứu 31 CTCP có vốn nhà nước thuộc ngành Dầu khí niêm yết trên TTCK Việt Nam. Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản có tác động tiêu cực lên HQKD, ngược lại tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có mối quan hệ tích cực với HQKD. Kết quả ước lượng hàm ý rằng để tăng hiệu quả kinh doanh thì các doanh nghiệp cần gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn của mình.
Kết quả nghiên cứu về 34 DN niêm yết thuộc lĩnh vực Năng lượng của Trần & Nguyễn (2020) cho thấy các biến giải thích bao gồm nợ ngắn hạn trên tổng tài sản SDR, nợ dài hạn trên tổng tài sản LDR, tổng nợ trên tổng tài sản đều TDR có tác động ngược chiều đến HQKD, phù hợp với đặc điểm của ngành Năng lượng Việt Nam. Biến kiểm soát quy mô SIZE có ảnh hưởng tích cực tới HQKD. DN có quy mô lớn sẽ nhanh chóng tiếp cận khoa học kỹ thuật tân tiến cũng như có thể tận dụng uy tín trong thị trường để dễ dàng tiếp cận vốn đầu tư từ bên ngoài cũng như bán hàng dễ dàng hơn. Tương tự, các biến kiểm soát khác như tài sản hữu hình TANG, tăng trưởng GROW cũng có tác động thuận chiều tới HQKD.
Ngược lại, tỷ lệ thanh khoản LIQ tác động thuận chiều đến HQKD. Trong một nghiên cứu gần đây của Bùi Vĩnh Thanh (2022), tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu gồm 87 DN niêm yết trên sàn HOSE ngoại trừ các DN thuộc ngành tài chính và bất động sản (BĐS) từ năm 2009 đến năm 2019 (bao gồm 2 giai đoạn của 7 chu kỳ kinh tế Việt Nam). Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản có ảnh hưởng ngược chiều đến HQKD. Ngược lại, tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ và các biến kiểm soát như quy mô, vòng quay tài sản và cơ hội tăng trưởng có ảnh hưởng thuận chiều đến HQKD của DN.