chương 1, đề tài đã nêu ra được tính cấp thiết cho sự ra đời của nghiên cứu này, nêu ra những mục tiêu nâng cao khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp mà đề tài mong muốn đạt được, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu là 300 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE từ năm 2012 đến năm 2022, những đóng góp của đề tài cho các nhà quản trị doanh nghiệp và đóng góp cho sự nghiệp khoa học thông qua nghiên cứu thực nghiệm, và kết thúc bằng kết cấu 5 chương của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Ở chương 3, đề tài sẽ cung cấp cơ sở lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các lý do đằng sau quyết định lựa chọn nguồn tài trợ cho doanh nghiệp của các nhà quản trị. Thêm vào đó, đề tài sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm là các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình nghiên cứu. Cuối cùng là phần thảo luận về các nghiên cứu trước và xác định các khe hở nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN Lý thuyết cấu trúc vốn được xem là kim chỉ nam trong việc quyết định kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp. Khả năng tạo ra lợi nhuận cho một doanh nghiệp phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là cách doanh nghiệp xây dựng và quản lý nguồn vốn của mình. Trong lịch sử, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về việc này trên toàn cầu. Các quan điểm phổ biến có thể bao gồm: 2.
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại của Modigliani và Miller Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại hay còn được gọi là lý thuyết M&M, là một lý thuyết cơ bản trong tài chính doanh nghiệp được phát triển lần đầu năm 1958 và sau này là năm 1961 bởi hai nhà kinh tế học Modigliani và Miller. Lý thuyết M&M dựa trên những giả định sau: 1. Các kỳ vọng đồng nhất: Các nhà đầu tư đồng ý cùng một tỷ suất sinh lời. Thị trường vốn hoàn hảo: Không có chi phí phá sản, thuế, chi phí giao dịch và mọi người đều có thông tin như nhau.
Lãi suất phi rủi ro: Nhà đầu tư có thể vay và cho vay ở mức lãi suất phi rủi ro. Không có phí đại diện: Các quản trị viên luôn luôn hành động với mục tiêu tối ưu hóa giá trị cho cổ đông. Quyết định độc lập: Quyết định về tài trợ và đầu tư được đưa ra độc lập mà không phụ thuộc vào nhau. 9 Lý thuyết M&M có hai mệnh đề chính và lần lượt được xem xét trong trường hợp không có thuế và có thuế.
Trƣờng hợp hợp không có thuế Đây là tình huống đơn giản nhất để xem xét lý thuyết M&M. Trong tình huống này, tất cả các điều kiện của lý thuyết M&M đều được tuân theo để giảm bớt phức tạp của vấn đề nghiên cứu. Mệnh đề I - Giá trị doanh nghiệp Lý thuyết M&M dựa trên những giả định trên, đã chứng minh rằng việc thay đổi cơ cấu vốn của một công ty không ảnh hưởng đến giá trị công ty. Kết luận này xuất phát từ ý tưởng rằng các nhà đầu tư cá nhân có khả năng tùy chỉnh cơ cấu vốn của công ty theo ý thích của họ bằng cách tham gia vào các hoạt động vay và cho vay đồng thời nắm giữ cổ phiếu công ty.
Khái niệm này bắt nguồn từ giả định rằng các nhà đầu tư có thể tham gia cho vay và đi vay với lãi suất phi rủi ro. Trong tình huống không có thuế, giá trị công ty khi có nợ vay (VL) tương đương với giá trị công ty khi không có nợ vay (VU), tức là VL = VU. Nói cách khác, trong hoàn cảnh không áp dụng thuế, giá trị công ty không thay đổi dù cho có hoặc không có nợ vay. Vì vậy, tỷ lệ nợ/vốn (D/E) không có tác động đến giá trị công ty.
Modigliani và Miller đã tận dụng khái niệm chênh lệch giá để nhấn mạnh quan điểm của họ. Nếu giá trị của một công ty không sử dụng đòn bẩy tài chính (không có nợ) khác với giá trị của một công ty có sử dụng đòn bẩy tài chính, cộng thêm thị trường là hoàn hảo và nhà đầu tư đều nắm được thông tin, do đó các nhà đầu tư có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh chênh lệch giá không rủi ro, bán cổ phiếu của công ty được định giá cao và sử dụng số tiền thu được để mua cổ phiếu công ty bị định giá thấp, từ đó cân bằng giá cổ phiếu của họ. Do vậy, giá trị của một công ty được xác định bởi dòng tiền trong tương lai chứ không phải là cấu trúc vốn. Do đó, không tồn tại cấu trúc vốn tối ưu và công ty cũng không thể tăng giá trị bằng cách điều chỉnh cấu trúc vốn.
Mệnh đề II - Chi phí sử dụng vốn 10 Việc sử dụng nợ sẽ có lãi suất thấp hơn tỷ suất sinh lời vốn cổ phần bởi vì chủ nợ được hưởng quyền truy đòi tài sản trước trong trường hợp công ty vợ nợ. Vì vậy, chi phí vốn bình quân sẽ giảm nếu sử dụng nợ. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ lại gia tăng rủi ro phá sản và từ đó gia tăng rủi ro cho những ai nắm giữ cổ phiếu. Việc đó khiến các cổ đông đòi hỏi mức tỷ suất sinh lời cao hơn nhằm bù trừ cho phần rủi ro gia tăng.
Mệnh đề II trong môi trường không có thuế chỉ ra rằng việc tăng sử dụng nợ có lãi vay thấp hơn không làm thay đổi chi phí sử dụng vốn bình quân vì sự gia tăng tương ứng trong chi phí vốn cổ phần. Mệnh đề II có công thức sau: rE = rU + (rU – rD) Trong đó: rE: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng rU: Chi phí sử dụng vốn rD: Lãi vay D: Giá trị nợ của công ty E: Giá trị vốn cổ phần 2. Trƣờng hợp hợp có thuế Mệnh đề I - Giá trị doanh nghiệp Hiện nay, khoản chi trả lãi vay có thể được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế. Điều này có nghĩa là nợ vay hoạt động giống như một tấm chắn thuế và số tiền được giảm trừ gia tăng giá trị của công ty.
Nếu như bỏ qua chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí vỡ nợ, giá trị của công ty tăng cùng với sự gia tăng của nợ vay. Nếu như có sự hiện diện của thuế, giá trị của các công ty có vay nợ lớn hơn giá trị của công ty không vay nợ đúng bằng giá trị của tấm chắn thuế: VL = VU + D*t Trong đó: t: thuế thu nhập doanh nghiệp D*t: giá trị tấm chắn thuế 11 Mệnh đề I khi có thuế hàm ý rằng một công ty hoạt động tốt có thể gia tăng giá trị của mình thông qua tài trợ bằng nợ vay. Ngoài ra, mệnh đề I khi có thuế cũng hàm ý rằng có thể gia tăng tối đa giá trị doanh nghiệp thông qua cơ cấu vốn bao gồm hoàn toàn bởi nợ vay. Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn Trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí sự dụng vốn bình quân không thay đổi cho dù doanh nghiệp có sử dụng nợ bao nhiêu do phần tăng lên trong chi phí vốn cổ phần bằng với phần giảm trong chi phí nợ vay.
Tuy nhiên, khi tính đến thuế thu nhập doanh nghiệp, phần giảm trong chi phí nợ vay lớn hơn phần giảm trong chi phí vốn cổ phần dẫn đến chi phí sử dụng vốn bình quân giảm: rE = rU + (rU – rD)(1-t) Khi t > 0, (1-t) sẽ nhỏ hơn một và sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn. Chi phí sử dụng vốn vẫn tăng khi doanh nghiệp dùng nhiều nợ vay hơn tuy nhiên chậm hơn so với trường hợp không có thuế. Nếu nợ tăng trong cấu trúc vốn khiến chi phí vốn bình quân giảm và giá trị doanh nghiệp tăng. Cho thấy rằng, khi có thuế, tài trợ bằng nợ vay là có lợi hơn.
Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi xem xét sự liên quan giữa việc dùng vốn vay và chi phí sử dụng vốn của một doanh nghiệp. Theo lý thuyết này, tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu cho một công ty, đảm bảo sự sự cân đối giữa lợi ích và chi phí khi sử dụng vốn vay. Về bản chất, lý thuyết đánh đổi cho rằng sử dụng nợ mang lại hai ưu điểm quan trọng chính: Lợi ích về thuế: Các khoản lãi phải trả cho khoản nợ thường sẽ được loại trừ khi tính thuế, dẫn đến việc giảm thuế thu nhập của doanh nghiệp. Điều này có thể giúp giảm bớt chi phí thuế mà doanh nghiệp phải trả.
Lá chắn thuế này giúp giảm tổng chi phí thông qua nguồn vốn vay so với việc tài trợ thông qua vốn chủ sở hữu. 12 Đòn bẩy tài chính: Nợ vay cho phép một doanh nghiệp khuếch đại lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho các cổ đông. Khi một công ty dùng nguồn vốn vay để tài trợ cho các khoản đầu tư hoặc dự án mang lại lợi nhuận cao hơn chi phí vay nợ, điều đó có thể làm tăng thu nhập cho các cổ đông. Mặt khác, việc sử dụng vốn vay cũng đi kèm với những chi phí và rủi ro nhất định: Chi phí lãi vay: Chi phí lãi vay là một khoản chi phí cố định phải được thanh toán bất kể doanh nghiệp hoạt động có lời hay không.
Việc này có thể gia tăng rủi ro tài chính, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc giai đoạn khó khăn về tài chính. Rủi ro phá sản: Khi một tổ chức vay nợ nhiều hơn, nguy cơ kiệt quệ tài chính và phá sản tăng lên. Nếu một doanh nghiệp không thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình, họ có thể phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm khả năng phá sản và mất quyền kiểm soát. Lý thuyết đánh đổi hàm ý rằng các nhà quản trị nên tìm kiếm sự cân bằng giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu nhằm giảm thiểu chi phí sử dụng vốn và tối đa hóa giá trị cho các cổ đông.
Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng là một khái niệm về tài chính và tài chính doanh nghiệp mô tả cách các công ty ưu tiên và chọn nguồn tài chính của họ. Nó được Donaldson giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1961 và sau đó được phát triển thêm bởi Myers và Majluf vào năm 1984.