chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài cùng bố cục của luận văn. Chương kế tiếp tác giả sẽ tiếp tục trình bày và bổ sung vào kho cơ sở lý thuyết các khái niệm trong nghiên 8 cứu và các nghiên cứu trong ngoài nước liên quan đến cấu trúc vốn và thanh khoản đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Tổng quan về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Có nhiều khái niệm khác nhau về cấu trúc vốn: Một số tác giả cho rằng cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự pha trộn giữa nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh (Damodaran, 2011). Theo Ahmad và các cộng sự (2012), cấu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh theo Ngô Văn Toàn và Lê Thị Lanh (2019). Bên cạnh đó, Gill và cộng sự (2011) cho rằng cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, Nirajini và Priya (2013) khẳng định “cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn dài hạn (cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi, các khoản vay ngân hàng) và nợ ngắn hạn (cho vay thấu chi và các khoản phải trả người bán)”.
Theo Westerfield và Jordan (2003), cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tương tự, Firer và cộng sự (2004) cũng nhấn mạnh rằng cấu trúc vốn đề cập đến sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Ủng hộ quan điểm của Westerfield và Jordam (2003), Ross và cộng sự (2003) cũng khẳng định cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo ThS. Nguyễn Thị Bích Thủy, ThS.
Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2016). Tỷ số này phản ánh cho tài sản của công ty được tài trợ bằng bao nhiêu vốn vay hay đơn giản là thể hiện việc vốn vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tài sản công ty. Bên cạnh đó hệ số trên còn nêu bật được khả năng trả nợ của doanh nghiệp là bao nhiêu, khi hệ số nợ càng thấp thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp được đảm bảo tuy nhiên ngược lại thì doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán nợ. 10 Để đánh giá và đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây thường căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, gồm: Hệ số nợ; Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu; Hệ số tự tài trợ.
Hệ số nợ thể hiện mức độ sử dụng các nguồn vốn vay của doanh nghiệp, cho biết tài sản của doanh nghiệp được đầu tư bởi bao nhiêu phần từ vốn vay. Hệ số này giúp đánh giá về tình trạng tài chính, bao gồm khả năng đảm bảo trả nợ, rủi ro của doanh nghiệp. Hệ số nợ phụ thuộc nhiều vào ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động, có thể được đo lường theo Nguyễn Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2016) như sau: Hệ số nợ tổng quát (D/C) = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản. Hệ số nợ ngắn hạn (SD/C) = Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản.
Hệ số nợ dài hạn (LD/C) = Nợ dài hạn/Tổng tài sản. Thông thường, nếu “hệ số nợ tổng quát lớn hơn 50%, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn so với vốn chủ sở hữu, còn ngược lại nếu hệ số nợ tổng quát nhỏ hơn 50% thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng ít gặp khó khăn tài chính hơn vì doanh nghiệp ít phụ thuộc vào nợ vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Hệ số nợ phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động” theo Nguyễn Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2016).
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp theo cách tiếp cận của Ross và cộng sự (2003), theo đó cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa tổng nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Ross và cộng sự cho rằng cấu trúc vốn được xác định dựa vào hệ số nợ tổng quát (DA) sẽ giúp tạo nên cái nhìn tổng quát về cơ cấu nguồn vốn và giúp đưa ra các kết luận đúng đắn hơn về tỷ lệ này. Tổng quan về thanh khoản của doanh nghiệp 11 Hiểu một cách đơn giản hơn thì thanh khoản là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của một tài sản. Ví dụ cụ thể về thanh khoản rất gần gũi mà ai cũng sở hữu đó chính là tiền mặt vì nó tính thanh khoản cao và thường có thể được trao đổi để đổi lấy sản phẩm với giá trị gần như không thay đổi.
Một số khác như chứng khoán hay các khoản phải thu, khoản nợ. sẽ có tính thanh khoản cao nếu khả năng đổi thành tiền mặt của chúng trở nên dễ dàng. Theo nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1930) thì “thanh khoản là một khái niệm tài chính chỉ mức độ của một tài sản bất kì có thể được trao đổi mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó”. Theo ông, một tài sản có tính thanh khoản cao thì nó có thể được bán đi một cách nhanh chóng mà giá bán vẫn không giảm đáng kể và thường đặc trưng bởi lượng giao dịch lớn.
Duttweiler (2009) thì khái niệm thanh khoản thành hai khía cạnh khác nhau là thanh khoản nhân tạo và thanh khoản tự nhiên. Trong đó thanh khoản nhân tạo là khả năng chuyển từ tài sản thành tiền mặt trước ngày kết thúc giao dịch và thanh khoản tự nhiên là các dòng lưu chuyển được tạo ra từ tài sản nợ nhưng có thời gian kết thúc giao dịch như luật định. Theo một tác giả trong nước là Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng “Thanh khoản là khả năng tiếp cận tài sản hay nguồn vốn có thể dùng để chi trả ngay khi có nhu cầu phát sinh với một chi phí hợp lý; một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh, một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hoá thành tiền thấp và có khả năng chuyển hoá thành tiền nhanh”. Thanh khoản có ý nghĩa là cho thấy được sự linh hoạt, lưu động và an toàn của một tài sản trên thị trường.
Một tài sản trong ngắn hạn sẽ mang tính thanh khoản cao khi giá của nó ít xảy ra biến động trong quá trình thị trường vận hành, với thị trường càng hoạt động mạnh và có hiệu quả thì tính thanh khoản sẽ càng 12 cao. Trong kế toán có một sắp xếp tính thanh khoản của các tài sản ngắn hạn từ thấp đến cao cụ thể như sau: 1. Hàng tồn kho. Ứng trước ngắn hạn 3.
Khoản phải thu 4. Đầu tư ngắn hạn 5. Tiền mặt Tiền mặt như đã nói có tính thanh khoản cao nhất trong danh sách vì lúc nào cũng được dùng một cách trực tiếp để phục vụ cho việc thanh toán, lưu thông trên thị trường hay tích trữ. Hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất do thường bị tồn lại trong kho vì phải qua nhiều giai đoạn từ phân phối đến tiêu thụ rồi chuyển thành khoản phải thu và rồi thì mới chuyển thành tiền mặt, điều đó khiến thanh khoản của nó trở nên cực kỳ thấp trong bảng xếp hạng thanh khoản.
Tổng quan về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Siminica & Stefan(2011) lập luận rằng “khả năng sinh lời thể hiện ở khả năng tạo ra thu nhập để trang trải những hoạt động và dẫn đến việc đạt được thu nhập ròng, bất kể loại hình hay tính chất mà nó được phân loại trong các cấp kinh tế vi mô tùy theo mức lợi nhuận của nó”. Theo Bauer (2004) trích bởi Chechet & Olayiwola (2014) thì lợi nhuận doanh nghiệp được đo lường bởi chỉ số khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Theo lý thuyết đại diện thì khi doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì càng phải nên dùng thêm nhiều đòn bẩy nhằm tạo nên lá chắn thuế để tận dụng lợi ích của công cụ này.
Bên cạnh đó, Gill và cộng sự (2011) phát biểu rằng “khả năng sinh lời là mục tiêu chính của một doanh nghiệp nếu muốn hoạt động và phát triển lâu dài. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể tồn tại nếu không có được lợi nhuận trong một 13 thời gian dài”. Vì vậy cần phải xác định và dự báo được khả năng sinh lời cho doanh nghiệp trong tương lai. Mặc dù ROA không phải là một giải pháp hoàn hảo, nhưng cũng được xem là một giải pháp tài chính hiệu quả và sẵn có nhất để đánh giá khả năng của công ty.
“Nó đánh giá cơ bản hiệu quả kinh doanh một cách hoàn hảo, cho thấy cả hiệu suất báo cáo thu nhập và các tài sản cần thiết để điều hành một doanh nghiệp. Theo David Lindo trích bởi Siminica & Stefan (2011) kết luận rằng Lợi nhuận trên tài sản (ROA) là chỉ số tài chính có mục đích chung được sử dụng để đo lường mối quan hệ của lợi nhuận thu được với tài sản đầu tư cần thiết để kiếm được lợi nhuận đó. Nghiên cứu của Tailab (2014) cũng khẳng định rằng ROA là một đại diện tốt cho lợi nhuận vì nó liên quan đến lợi nhuận của doanh nghiệp đối với tài sản cơ bản. Phan Thanh Hiệp (2016) cũng ủng hộ việc khả năng sinh lời của doanh nghiệp được đo bằng ROA” theo Đỗ Văn Thắng và Quang Trịnh (2014).