chương 1 trình bày kết cấu nghiên cứu gồm 5 chương. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của quản trị VLĐ, KNSL cùng những kết quả nghiên cứu thực nghiệm có liên quan của nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam. Dựa trên cơ sở đó xây dựng mô hình nghiên cứu cho chương tiếp theo phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Vốn lƣu động của doanh nghiệp 2.
Vốn lƣu động Theo Trần Ngọc Thơ (2005) định nghĩa rằng "VLĐ được định nghĩa như tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn". "Định nghĩa này được sử dụng để cho thấy một DN đã sử dụng bao nhiêu nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của DN. Nói cách khác, VLĐ trong định nghĩa này còn được gọi là VLĐ ròng". Theo Calmguy Chaitu 2013, "để duy trì dòng doanh thu từ hoạt động, mỗi DN cần một lượng tài sản ngắn hạn nhất định.
Ví dụ, tiền mặt để thanh toán chi phí hoặc đáp ứng các nghĩa vụ đối với dịch vụ nhận được hoặc hàng hóa được mua,v. Với lý do tương tự, hàng tồn kho được yêu cầu phải cung cấp sự liên kết giữa sản xuất và bán hàng. Tương tự với đó, các khoản phải thu được tạo ra từ việc bán chịu hàng hóa. Toàn bộ tài sản lưu động này tạo thành VLĐ của DN".
Theo một định nghĩa khác, "VLĐ là phần vượt quá của tài sản lưu động so với nợ ngắn hạn, tức đó là lượng tài sản ngắn hạn còn lại trong một DN nếu tất cả các khoản nợ ngắn hạn của nó được thanh toán". "Khái niệm VLĐ này còn được gọi là VLĐ ròng, là một khái niệm thực tế hơn và được tính rằng Tổng tài sản hiện tại trừ nợ ngắn hạn". Theo Nguyễn Thị Hòa và cộng sự (2014), "Việc xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ của DN nhằm có kế hoạch đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của DN liên tục, duy trì hàng ngày một cách hiệu quả. Việc quản lý VLĐ không hiệu quả không chỉ dẫn đến mất lợi nhuận, trong trường hợp tệ hơn sẽ dẫn đến việc DN phải đóng cửa".
Tiếp tục giải thích, "nếu DN dự trữ nguồn VLĐ quá cao, gây ra tình trạng dư thừa hàng hóa, nguyên liệu không cần thiết sẽ dẫn đến phát sinh nhiều chi phí 8 không cần thiết, giảm hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, nếu DN xác định quá ít lượng VLĐ thì sẽ gặp nhiều khó khăn về tài chính trong quá trình hoạt động như thiếu hàng hóa để bán, không thực hiện được các hợp đồng tiêu thụ hàng hóa đã ký kết với khách hàng, thiếu nguyên vật liệu để sản xuất". Quản trị vốn lƣu động Theo Filbeck, Krueger & Preece - 2007 "Nhận biết được sự quan trọng của quản trị VLĐ là đảm bảo rằng các DN có đủ lượng tiền để liên tục sản xuất kinh doanh theo một cách bình thường và không gặp cản trở về thanh toán trong ngắn hạn. Do đó, sự hiểu biết sâu sắc về vai trò của VLĐ ảnh hưởng hiệu quả hoạt động của DN sẽ giúp các nhà quản trị thiết lập kế hoạch, chiến lược hoạt động cho DN".
Theo Aktas, Croci và Petmezas (2015), "Để quản trị VLĐ hiệu quả, DN phải đánh đổi giữa hai mặt là KNSL và rủi ro thanh khoản". Theo một nghiên cứu khác, "Nếu VLĐ được quản lý tốt, không chỉ ảnh hưởng đến kế toán mà còn làm gia tăng giá trị của DN trên thị trường, có lợi cho sự phát triển của giá vốn cổ phần" (Jeng- Ren và cộng sự, 2006). Nếu VLĐ quản lý không hiệu quả, khiến cho DN thiếu thanh khoản, và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của DN. Theo Subramanyam (2014), quản lý VLĐ hướng tới mục tiêu: "đảm bảo rằng DN tiếp tục hoạt động mà không gặp trở ngại nào và có đủ dòng tiền để đáp ứng cả nghĩa vụ nợ và chi phí hoạt động sắp tới".
Vì vậy, để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, nghiên cứu tiếp cận quản trị VLĐ là quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn để tạo ra cơ cấu VLĐ hợp lý phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN, từ đó tối đa hóa lợi ích cho DN. Khả năng sinh lời của DN "KNSL được coi là khả năng tạo thêm thu nhập từ toàn bộ hoạt động mạo hiểm. Khả năng này thể hiện khả năng một DN tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng 9 tài sản có sẵn", (Subramanyam, 2014). Theo Subramanyam (2014), "lợi nhuận là mục tiêu chính của kinh doanh và là trung tâm cho cả sự sống còn để DN hoạt động bền vững trên thị trường".
Ông cho rằng, "mặc dù tối đa hóa của cải hàng hóa là một mục tiêu mà tất cả cổ đông quan tâm, tuy nhiên họ vẫn lo lắng về KNSL của DN. KNSL là mối quan hệ giữa lợi ích mà DN tạo ra và các các khoản đầu tư được thực hiện nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho DN. Trong đó, hướng đến việc tận dụng mọi nguồn lực sẵn có trong DN một cách triệt để để có được mức sinh lợi cao nhất". Theo Hifza (2011), "Gia tăng KNSL là mục tiêu chính và quan trọng trong việc quản lý tài chính mà mỗi DN hướng đến vì đây là cơ sở để gia tăng tối đa tài sản cho chủ sở hữu".
Theo Kien Xuan Pham và cộng sự (2020), "có nhiều cách để DN tăng KNSL và quản trị VLĐ là một trong những cách hiệu quả nhất". Theo Samuel Kamau (2009), "KNSL đo lường hiệu quả quản lý của DN, thể hiện qua lợi nhuận thu được từ bán hàng và đầu tư. Chúng cho thấy mức độ thành công trong việc tạo ra lợi nhuận của DN". "Một số chỉ số đánh giá KNSL như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GOP), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), tỷ số sinh lời trên vốn đầu tư (ROI), ".
Khóa luận sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đại diện cho KNSL dựa trên góc độ quản lý, và từ đây, nhà quản trị có thể dựa vào để đánh giá KNSL của DN. Lƣợc khảo các nghiên cứu trƣớc có liên quan 2. Nghiên cứu nƣớc ngoài Sharma & Kumar (2011) sử dụng mô hình ước lượng dữ liệu bảng OLS để giải thích tác động của VLĐ đến KNSL của 263 DN phi tài chính SEB 500 tại Sở GDCK Bombay (BSE) từ năm 2000-2008. Nghiên cứu cho thấy kỳ thu tiền bình quân ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa với KNSL ; quy mô DN ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa với KNSL (ROA).
10 Mansoori & Muhammad (2012) sử dụng mô hình dữ liệu bảng pooled OLS và FEM để giải thích tác động của VLĐ đến hiệu quả sinh lời của 92 DN trên Sở GDCK Singapore (SGE) từ 2004-2011. Nghiên cứu cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân tác động ngược chiều đến KNSL (ROA). Garg & Gumbochuma (2015) sử dụng mô hình dữ liệu bảng FER để giải thích tác động của VLĐ để KNSL của các DN trong ngành bán lẻ ở Nam Phi được niêm yết trên Sở GDCK Johannesburg trong giai đoạn 2004-2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, chỉ số nợ, đòn bẩy tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến KNSL, quy mô DN ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL (ROA).
Mumtaz et al. Nghiên cứu cho thấy kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều đến KNSL; quy mô DN tác động cùng chiều đến KNSL (ROA). Uguru, Chukwu & Elom (2018) sử dụng mô hình ước lượng dữ liệu bảng pooled OLS để giải thích VLĐ đến KNSL của DN sản xuất bia ở Nigeria từ 2006- 2014. Nghiên cứu cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tác động ngược chiều đến KNSL, kỳ thu tiền bình quân tác động cùng chiều đến KNSL (ROA).
Nghiên cứu trong nƣớc Từ Thị Kim Thoa & Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) đã sử dụng phương pháp pooled OLS, FEM, GLS để phân tích quan hệ giữa quản trị VLĐ và khả năng sinh lợi 208 DN phi tài chính niêm yết tại HOSE và HNX trong giai đoạn 2006 - 2012. Kết quả cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngược chiều lên tỷ suất sinh lợi. Mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và kỳ phải trả với KNSL (GOP). Bùi Ngọc Toản (2016) xác định các tác động của chính sách VLĐ đến khả năng sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) của 35 DN ngành bất động sản Việt Nam 11 niêm yết trên Sở GDCK Việt Nam từ 2010-2014.
Áp dụng mô hình ước lượng dữ liệu bảng OLS, FEM, REM, sau đó loại bỏ khuyết tật mô hình bằng phương pháp FGLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến KNSL; quy mô DN, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều đến KNSL (ROA). Dƣơng Thị Hồng Vân & Trần Phƣơng Nga (2018) đã sử dụng 3 mô hình ước lượng dữ liệu bảng OLS, FEM, REM để phân tích ảnh hưởng của quản trị VLĐ đến KNSL của 42 DN sản xuất vật liệu xây dựng niêm yết trên Sở GDCK Việt Nam từ 2012-2016. Kết quả cho thấy rằng kỳ luân chuyển tiền mặt, tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều đến KNSL; kỳ thu tiền bình quân kỳ hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, quy mô DN có tác động cùng chiều đến KNSL (ROA).
Trần Tú Uyên (2018) đã sử dụng phần mềm Eviews, kết quả thu được mô hình hồi quy để phân tích tác động của quản trị VLĐ đến KNSL của 56 DN trong ngành thực phẩm giai đoạn 2015-2017 niêm yết trên Sở GDCK Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỳ thu tiền bình quân, kỳ hàng tồn kho, kỳ luân chuyển tiền mặt, đòn bẩy tài chính và tỷ lệ thanh toán hiện hành có tác động ngược chiều đến KNSL. Trong khi đó, quy mô DN tác động cùng chiều đến KNSL (ROA). Kien Xuan Pham và cộng sự (2020) đã sử dụng 2 mô hình ước lượng dữ liệu bảng FEM, REM, sau đó chạy kiểm định Hausman để so sánh và kết quả cuối cùng chọn mô hình FEM để phân tích tác động của VLĐ tới hiệu quả sinh lời của 26 DN ngành Thép được niêm yết trên Sàn Chứng khoán Việt Nam từ 2010-2019.