chương 1 luật doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường. Luật Doanh Nghiệp cũng quy định 4 hình thức pháp lý cơ bản của Doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn và Công ty Cổ Phần. Trong phạm vi liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng ta chỉ đi sâu vào hình thức Công ty Trách nhiệm hữu hạn. Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và được luật pháp Việt Nam công nhận.
Trong đó, công ty là pháp nhân và chủ sở hữu công ty là thể nhân sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty, đây là hai thực thể pháp lý tách bạch riêng biệt. Công ty TNHH có 2 loại hình là Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Theo Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH 1 thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cơ quan thẩm 7 quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH 1 thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quy định: Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là 2 và không vượt quá 50; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH 2 thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phiếu. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, nó có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác. Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động và gắn bó thường xuyên giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Tấn Bình, 2013). Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, chính là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các hoạt động có liên quan đến tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ bằng tiền trong doanh nghiệp chính là hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2012) - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội có định nghĩa như sau: “Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế”. Như vậy, về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Các quan hệ kinh tế này gọi là quan hệ tài chính doanh nghiệp. Cốt lõi của các quan hệ tài chính doanh nghiệp là các quyết định của doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận và tối thiểu rủi ro kinh doanh. Như vậy: Về nội dung, tài chính doanh nghiệp phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. 8 Về hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng gắn liền với hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Đặc điểm của Tài chính doanh nghiệp Căn cứ vào phạm vi hoạt động, người ta chia quan hệ tài chính doanh nghiệp thành quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp và quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước được thể hiện qua việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động (đối với doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí.; quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khách như quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay vốn, đầu tư vốn, mua hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá và các dịch vụ khác. Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp được thể hiện trong thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của doanh nghiệp; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp; việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp; việc phân chia lợi tức cho các cổ đông; việc hình thành các quỹ của doanh nghiệp. Nói cách khác, Tài chính doanh nghiệp phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các nguồn kinh tế của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
Tài chính doanh nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn các nhu cầu, mục tiêu của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính, phản ánh tổng hợp kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, tài chính doanh nghiệp gắn liền với quá trình hình thành, sử dụng vốn và các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Nó gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các quan hệ tài chính doanh nghiệp phát sinh như quan hệ nộp - cấp giữa các doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ thanh toán của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong xã hội, với người lao động, … Thứ hai, sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh tại Công ty TNHH có những nét riêng biệt.
Cụ thể, sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư là lao động, số vốn này được tạo lập ban đầu và bổ sung thêm từ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị; sự vận động của vốn kinh doanh vì mục tiêu doanh lợi. 9 Thứ ba, tài chính tại doanh nghiệp cũng gắn liền với việc tìm kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối lại thu nhập, thực hiện các nghĩa vụ thanh toán và vận động của vốn giữa các đơn vị hoặc trong nội bộ doanh nghiệp. Thứ tư, tài chính doanh nghiệp được coi là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và các nhu cầu chung của xã hội. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và qua lại với các hoạt động khác trong doanh nghiệp.
Chính vì vậy, để nhận thức đúng được bản chất, tính chất và xu hướng phát triển của tài chính doanh nghiệp cần phân chia, phân giải tài chính doanh nghiệp thành các bộ phận cấu thành trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận và xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các hoạt động kinh tế khác của doanh nghiệp. Chức năng của tài chính doanh nghiệp Thứ nhất, đảm bảo nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có số vốn nhất định. Khi quyết định thực hiện đầu tư, các nhà quản trị tài chính phải xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động đó đồng thời có kế hoạch tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ với chi phí hợp lý nhất.
Mục tiêu của huy động vốn là đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với tình hình tài chính, đặc điểm của ngành nghề kinh doanh, đảm bảo cơ cấu vốn mục tiêu với chi phí thấp, đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính, phát huy tác dụng tích cực của đòn bẩy tài chính. Nội dung chính của xác định nhu cầu và tổ chức huy động vốn bao gồm: + Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn, nhà quản trị tài chính cần tính toán, xác định nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. + Tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời và đầy đủ với chi phí hợp lý. Doanh nghiệp cần cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn.
Trong trường hợp nhu cầu lớn hơn khả năng cung ứng vốn thì doanh nghiệp phải tìm cách huy động thêm vốn để đáp ứng nhu cầu SXKD. Việc huy động phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời nhưng với chi phí sử dụng vốn thấp nhất. Ngược lại, nếu nhu cầu vốn nhỏ hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp có thể đầu tư mở rộng sản xuất hoặc thực hiện phương án đầu tư khác mang lại hiệu quả và tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. 10 + Khi xây dựng kế hoạch vốn cần lựa chọn và phân phối sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý để có thể đạt hiệu quả cao nhất với số vốn ít nhất.
Thứ hai, chức năng phân phối thu nhập bằng tiền. Doanh nghiệp tiến hành phân phối thu nhập bằng tiền từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ, từ lợi tức cổ phiếu, từ lãi cho vay và từ thu nhập khác. Các khoản thu của doanh nghiệp được phân phối như sau: + Bù đắp hao phí vật chất, lao động tiêu hao trong quá trình SXKD của doanh nghiệp, bao gồm: Chi phí vật tư (nguyên nhiên phụ liệu, công cụ dụng cụ.