Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Quản trị tài chính tại doanh nghiệp 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, DN là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Nó là một cách tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các DN chứ không phải các cá nhân. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 [24], DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Ở Việt Nam, DN có các loại hình: DN nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, DN tư nhân.
Tài chính DN là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của TCDN cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa mà nay đã phát triển thành nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế này, TCDN được đặc trưng bằng những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, TCDN phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị trong nền kinh tế. Luồng chuyển dịch đó là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt 7 động sản xuất, kinh doanh của DN. Đó là sự vận động của các nguồn tài chính được diễn ra trong nội bộ DN để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh và được diễn ra giữa DN với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế cho Nhà nước hoặc tài trợ tài chính; giữa DN với thị trường: thị trường hàng hóa - dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính… trong việc cung ứng các yếu tố sản xuất (đầu vào) cũng như bán hàng hóa, dịch vụ (đầu ra) của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Hai là, sự vận động của các nguồn TCDN không phải diễn ra một cách hỗn loạn, mà nó được hòa nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường. Đó là sự vận động chuyển hóa từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của DN và ngược lại. Sự chuyển hóa qua lại đó được điều chỉnh bằng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh của DN. Từ những đặc trưng trên, có thể hiểu: TCDN là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của DN.
TCDN có vai trò: i) Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của DN; xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của DN trong từng thời kỳ; lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các DN được thực hiện một cách nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất. ii) Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Vai trò này được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi DN; đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư tối ưu; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh. iii) Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh.
Vai trò này được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng hoá bán, 8 dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của DN, phân phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế… Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Tình hình tài chính của DN là một tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động kinh doanh của DN thông qua các chỉ tiêu tài chính thực hiện mà các nhà quản lý DN dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của DN, để từ đó có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của DN, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định. Vai trò của TCDN là tích cực hay thụ động trước hết là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính DN và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính DN. Quản trị TCDN là một hoạt động cần thiết đối với DN trong việc phát huy vai trò tích cực của TCDN.
Quản trị TCDN Trong quá trình vận hành hoạt động của DN, do theo đuổi lợi ích của mình là tối đa hóa lợi nhuận trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt, các nhà quản trị phải nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm vận dụng tổng hợp các chức năng của TCDN để khởi thảo, lựa chọn và áp dụng các hình thức và phương pháp thích hợp cho việc ra quyết định tài chính hợp lý và đúng đắn nhất. Hiện nay ở trong nước và trên thế giới đã có khá nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị TCDN (tiếng Anh: Corporate Financial Management) do cách tiếp cận khác nhau. Dưới đây là một số quan niệm về quản trị TCDN ở Việt Nam. Có người cho rằng, quản trị tài chính là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền trong DN nhằm đạt được mục tiêu của DN.
Quản trị tài chính là một trong những chức năng cơ bản của quản trị DN. Vì thế chức năng của quản trị TCDN có quan hệ mật thiết với các chức năng khác trong quản trị DN như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực [21]. 9 Quan niệm khác thì cho rằng, quản trị TCDN là việc DN lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động kinh tế của mình, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị DN và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trên thị trường [20]. Có người lại hiểu, quản trị tài chính là một môn học về khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong phạm vi hoạt động sản xuất và kinh doanh của DN để từ đó có thể đưa ra các quyết định tài chính nhằm vào những mục tiêu khác nhau như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hoá giá trị DN và các mục tiêu khác [29].
Nếu theo cách hiểu thứ nhất, thì quản trị TCDN là hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền; còn cách hiểu thứ hai cho rằng đây là việc lựa chọn của DN trong việc đưa ra và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính; còn cách thứ ba lại hiểu đây là các mối mối quan hệ tài chính phát sinh. Tuy nhiên, các quan niệm trên đều có sự thống nhất trong nội hàm khái niệm, đều hiểu quản trị TCDN là phạm trù kinh tế gắn liền với hoạt động của DN trong nền kinh tế thị trường. Nó là một trong những bộ phận nằm trong chức năng quản trị của bất kỳ một DN nào trong nền kinh tế thị trường. Nó liên quan đến bản thân sự tồn tại và phát triển của DN, đến lợi ích của chủ DN và của những người tham gia vào hoạt động tại DN kể cả người lao động cũng như người góp vốn vào DN.
Trong hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư của DN, có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy một cách kịp thời và khoa học. Có như vậy, DN mới đứng vững và phát triển. Để tồn tại và phát triển trong hoạt động kinh doanh, một DN năng động bao giờ cũng phải tính đến các mục tiêu và nhiệm vụ cả trong dài hạn và trong ngắn hạn, phải quan tâm đến việc xây dựng và thực thi “chiến lược” và “chiến thuật”. Về chiến lược, phải xác định ra mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài hạn nhằm phát triển DN và chính sách tài chính của DN.
Ví dụ: việc quyết định đưa ra 10 thị trường sản phẩm mới vào một thời điểm nào đó, việc tham gia liên doanh, việc sử dụng vốn cổ phần của công ty thay vì sử dụng nguồn vốn vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, việc quyết định phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn góp đều là những quyết định có tính chiến lược. Về chiến thuật, phải xác định công việc trong thời hạn ngắn những tác nghiệp cụ thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của DN. Ví dụ: việc đưa ra những quyết định thay thế một tài sản cố định mới, việc lựa chọn địa điểm thuê cửa hàng, việc xem xét giữa đi thuê hay mua một căn nhà, xem xét giá cả của hàng hoá lúc mới bán ra ở thời điểm đầu vụ, việc hạ giá theo mùa. đều là những quyết định về mặt chiến thuật.
Theo Giáo sư David Denis Roger S. trường Đào tạo Thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) tại London, quản trị TCDN liên quan đến quá trình thông qua đó DN tạo ra giá trị bởi các quyết định phân bổ vốn và tài trợ của mình. Sử dụng một cách hỗn hợp các công cụ định lượng và phân tích, quản lý dự báo nhu cầu tài chính và cơ hội, đánh giá giá trị của những cơ hội này, và thực hiện một chiến lược để đạt được mục tiêu về tài chính của DN.