Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của tiền mặt dư thừa đến các quyết định tài chính của công ty. Chương này tác giả đưa ra các lý thuyết liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt và các bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trên khắp thế giới về tác động của tiền mặt dư thừa đến các quyết định tài chính của công ty.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, các mô hình và mô tả biến, đặt ra các giả thuyết để kiểm định và các phương pháp hồi quy được thực hiện. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra các thảo luận.
Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả tóm lược các kết quả nghiên cứu chính đạt được và đưa ra các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TIỀN MẶT DƢ THỪA ĐẾN CÁC QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 2. Cơ sở lý thuyết Tiền mặt dư thừa được định nghĩa là lượng tiền mặt nắm giữ vượt quá mức tiền mặt “tối ưu” (hay cần thiết) được dự báo (Opler et al., 1999; Dittmar and Mahrt – Smith, 2007).
Theo các lý thuyết tài chính doanh nghiệp, mỗi công ty nên có một mức tiền mặt thích hợp, đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí, chi tiêu vốn và phòng trường hợp gặp phải những tình huống bất ngờ mà công ty không lường trước được. Tác giả ước lượng mức tiền mặt tối ưu này bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến tiền mặt như: các cơ hội đầu tư, dòng tiền, quy mô công ty…. Tiền mặt dư thừa sau đó được định nghĩa là sự khác biệt hay độ lệch giữa lượng tiền mặt thực tế và mức tiền mặt được dự báo, hay mức tiền mặt tối ưu. Nói cách khác, đó chính là phần dư từ mô hình hồi quy dữ liệu chéo mức tiền mặt nắm giữ và phần dư này nếu lớn hơn 0 cho thấy công ty nắm giữ tiền mặt dư thừa và nhỏ hơn 0 cho thấy công ty nắm giữ ít tiền mặt (Chen et al., 2012; Martínez - Sola et al.
Thời gian gần đây có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến quản trị công ty tập trung vào việc nắm giữ tiền mặt của công ty như: Pinkowitz et al. (2006); Harford et al. (2008); Denis and Sibilkov (2010); Lee and Powell (2011); Bigelli and Sánchez - Vidal (2012); Lozano (2012); Martínez - Sola et al. Nhìn chung, các nghiên cứu này tập trung vào 3 lý thuyết: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đại diện.
Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi cho rằng, các công ty thiết lập mức tiền mặt nắm giữ mục tiêu bằng cách cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt (Miller and Orr, 1966; Kim et al. Như đã được chỉ rõ bởi Opler et al. (1999) dựa trên Keynes (1936), lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt xuất phát từ hai động cơ: 9 động cơ giao dịch và động cơ dự phòng. Theo động cơ giao dịch, công ty giữ lại tiền mặt để đáp ứng các hoạt động thường xuyên cũng như tận dụng các cơ hội đầu tư hiệu quả của công ty.
Hơn nữa, tiền mặt còn giúp công ty không phải gánh chịu các tổn thất do thiếu tiền mặt như: i) công ty phải chấp nhận bán các tài sản với giá thấp để có thể huy động đủ lượng vốn cần thiết; ii) công ty buộc phải cắt giảm cổ tức và điều này có thể truyền đạt các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận và dòng tiền tương lai của công ty đến các nhà đầu tư và từ đó có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu; iii) công ty phải tốn các chi phí liên quan đến việc phát hành cổ phần mới để có được nguồn tài trợ bên ngoài (Opler et al., 1999; Ozkan and Ozkan, 2004). Trong khi đó, động cơ dự phòng cho rằng lượng tiền mặt nắm giữ tạo ra một tấm đệm an toàn cho công ty vì tiền mặt có tác dụng như một khoản dự phòng tài chính, giúp công ty đối phó với các khó khăn không lường trước được (Ozkan and Ozkan, 2004) như sự gia tăng chi phí nguyên vật liệu, sự đình công hay sụt giảm trong nhu cầu của thị trường,. Tuy nhiên, việc công ty cần phải nắm giữ bao nhiêu tiền mặt để có thể đương đầu với các cú sốc bất lợi phụ thuộc vào dự báo về dòng tiền thuần phát sinh trong tương lai. Chẳng hạn như, nếu công ty dự báo dòng tiền thuần trong tương lai cao thì sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn và ngược lại.
Ngoài ra, một số công ty có khả năng vay mượn dễ dàng trong một khoảng thời gian ngắn sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn vì các công ty này có thể nhanh chóng vay mượn vào thời điểm mà các tình huống bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên, nắm giữ tiền mặt cũng tốn chi phí, đó là cơ hội phí bị mất đi do bỏ qua các dự án đầu tư có mức sinh lợi cao hơn để nắm giữ lượng tiền mặt này. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng dựa trên nghiên cứu của Myers (1984) và Myers and Majluf (1984) cho rằng các công ty có xu hướng ưa thích nguồn tài trợ nội bộ hơn so với nguồn tài trợ bên ngoài. Ngoài ra, các công ty không duy trì mức tiền mặt mục tiêu mà thay vào đó tiền mặt được sử dụng như một tấm đệm giữa lợi nhuận giữ lại và các dự án đầu tư (Ferreira and Vilela, 2004).
Theo đó, các công ty có nhiều cơ hội đầu tư sẽ nắm giữ nhiều tiền mặt nhất có thể, đặc biệt là những công ty 10 gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ bên ngoài (Chen, 2008). Hơn nữa, lý thuyết trật tự phân hạng còn cho rằng việc gia tăng tài trợ từ bên ngoài đắt đỏ hơn khi có sự bất cân xứng thông tin giữa công ty và nhà đầu tư bên ngoài (Myers and Majluf, 1984) vì những người bên ngoài có ít thông tin hơn các nhà quản lý nên họ muốn đảm bảo rằng các chứng khoán mà mình mua không bị định giá cao và sẽ chiết khấu các chứng khoán này một cách thích hợp. Việc chiết khấu này có thể dẫn đến định giá thấp các chứng khoán và nếu khoản chiết khấu đủ lớn có thể khiến các nhà quản lý nhận thấy việc không bán các chứng khoán sẽ có lợi hơn và sẽ giảm đầu tư. Chính vì những lý do trên mà các nhà quản lý luôn cố gắng tối thiểu hóa chi phí từ việc tài trợ bên ngoài bằng cách duy trì một mức độ linh hoạt tài chính tối ưu vì sự linh hoạt tài chính cho phép họ có đủ nguồn tài trợ để có thể nhanh chóng cung cấp cho các dự án đầu tư hiệu quả.
Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện của Jensen and Meckling (1976) cho rằng, khi thị trường vốn là không hoàn hảo, với sự tồn tại của bất cân xứng thông tin, các nhà quản lý sẽ ưa thích giữ lại tiền mặt hơn là chi trả cổ tức cho cổ đông vì họ có thể sử dụng tiền mặt dư thừa để theo đuổi các lợi ích riêng của mình như tăng lương, thưởng hay thực hiện các mục tiêu về quyền lực, uy tín và sự thăng tiến mà chi phí là do các cổ đông gánh chịu. Ngoài ra, các công ty có vấn đề đại diện nghiêm trọng hơn sẽ nắm giữ nhiều tiền mặt hơn lượng tiền mặt cần thiết để làm tối đa hóa giá trị của cổ đông. Chính vì vậy, việc nắm giữ tiền mặt dư thừa và sử dụng một cách tùy ý có thể khiến nhà quản lý lựa chọn các dự án đầu tư không hiệu quả khi mà các dự án đầu tư hiệu quả là không có sẵn. Hơn nữa, khả năng các nhà quản lý sử dụng tiền mặt dư thừa cho các mục tiêu riêng làm gia tăng chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài bởi vì những người bên ngoài không có thông tin về việc liệu các nhà quản lý huy động tiền mặt nhằm mục đích gia tăng giá trị công ty hay theo đuổi lợi ích riêng.
Do đó, việc sử dụng tiền mặt dư thừa để đầu tư có thể tác động tiêu cực đến giá trị công ty. Tuy nhiên, các chi phí đại diện là ít quan trọng hơn đối với các công ty có nhiều cơ hội đầu tư có giá trị vì khi đó nhiều khả năng mục tiêu của nhà quản lý và cổ đông 11 là như nhau. Bằng chứng thực nghiệm về tác động của tiền mặt dƣ thừa đến các quyết định tài chính Trên thực tế, có nhiều bài nghiên cứu cho thấy tồn tại một mức tiền mặt tối ưu mà tại đó giá trị công ty là cao nhất. Trong đó, điển hình là bài nghiên cứu gần đây của Martínez - Sola et al.
(2013) ở Mỹ về mối quan hệ phi tuyến dạng đường cong parabol lõm giữa lượng tiền mặt mà công ty nắm giữ và giá trị công ty bằng cách sử dụng một mẫu bao gồm 472 công ty niêm yết giai đoạn 2001 - 2007. Kết quả thu được ủng hộ lý thuyết đánh đổi khi cho thấy tồn tại một mức tiền mặt nắm giữ tối ưu làm tối đa hóa giá trị công ty và mức tối ưu phụ thuộc vào các yếu tố như: tiềm năng tăng trưởng, khả năng tiếp cận thị trường vốn, quy mô và mức độ đòn bẩy tài chính mà công ty sử dụng để tài trợ trong cấu trúc vốn. Ngoài ra, nếu lượng tiền mặt lệch ra khỏi mức tối ưu, trong cả hai trường hợp thấp hơn và cao hơn mức tối ưu, đều làm giảm giá trị công ty. Các kết quả này có những hàm ý quan trọng đối với các nhà nghiên cứu và nhà quản lý trong việc gia tăng giá trị thị trường của công ty bằng cách thiết lập mức tiền mặt có thể nắm giữ xoay quanh mức tối ưu này.
Từ đây có thể thấy rằng, mỗi công ty nên có một mức tiền mặt thích hợp để có thể đáp ứng các nhu cầu cần thiết như: thanh toán lãi vay, chi cho đầu tư, gia tăng vốn luân chuyển và duy trì một khoản dự trữ để kịp thời xử lý trong những tình huống khẩn cấp mà công ty không lường trước được.