Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về đề tài như đã trình bày Chương 2: Cơ sở lí thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày các yếu tố ảnh hưởng tới bội chi ngân sách dựa trên lí thuyết nền và các nghiên cứu trước từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày về quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích và đo lường các biến; trình bày về dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tập trung vào việc phân tích dữ liệu và trình bày các kết quả phân tích dữ liệu mà nghiên cứu đạt được. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến bội chi ngân sách 63 tỉnh thành Việt Nam từ đó đề xuất một số chính sách để cải thiện thâm hụt ngân sách tại các tỉnh thành Việt Nam.
Cuối cùng nêu lên một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH Chương 2 trình bày các khái niệm thuộc phạm trù ngân sách nhà nước; dựa trên lí thuyết nền và các nghiên cứu trước để đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới bội chi ngân sách địa phương, từ đó đặt ra các giả thuyết nghiên cứu.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Theo Steven M.Sheffrin (2003), ngân sách hay ngân quỹ nói chung là một danh sách tất cả các chi phí và doanh thu theo kế hoạch. Đây là một kế hoạch cho tiết kiệm và chi tiêu. Ngân sách nhà nước hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Luật Ngân sách Việt Nam (2015) định nghĩa Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy, bất kì một hoạt động thu chi nào của ngân sách đều phải nằm trong kế hoạch đã đặt ra và được sự thẩm tra, quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Dưới đây là một số khái niệm thuộc phạm trù ngân sách nhà nước theo định nghĩa của Luật ngân sách (2015): Ngân sách nhà nước ta bao gồm Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương.
Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp Trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp Trung ương. Trung ương là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương. Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.
Trong nghiên cứu này nghiên cứu ngân sách địa phương ở cấp tỉnh/thành phố. 6 Ở Việt Nam, xét về phương diện pháp lý, thu NSNN gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.
Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; Các khoản viện trợ; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý thì chi tiêu nhà nước được chia thành hai nhóm chính: thứ nhất là nhóm chi đầu tư phát triển gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; thứ hai là chi thường xuyên, đây là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Bên cạnh 2 nhóm chi chính thì còn một số khoản chi như Chi trả nợ, nhiệm vụ khoản chi này là để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay của nhà nước; Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính. Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng 7 chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.
Số bổ sung cân đối ngân sách là khoản ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới nhằm bảo đảm cho chính quyền cấp dưới cân đối ngân sách cấp mình để thực hiện nhiệm vụ được giao. Số bổ sung có mục tiêu là khoản ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án, nhiệm vụ cụ thể. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách là tỷ lệ phần trăm (%) mà từng cấp ngân sách được hưởng trên tổng số các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách. Trên đây là một số khái niệm và nội dung liên quan đến ngân sách nhà nước được quy định trong Luật Ngân sách hiện hành.
BỘI CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG Theo Bùi Thị Mai Hoài và cộng sự (2007), Ngân sách nhà nước là một đạo luật tài chính cơ bản do Quốc hội quyết định, thông qua các khoản thu chi tài chính của nhà nước được thực hiện trong một tài khóa. Trên thực tế, quá trình thu chi NSNN luôn ở trạng thái biến đổi không ngừng và có sự chuyển hóa theo chu kì kinh tế. Thu, chi ngân sách có cân đối hay không cần phải xem xét trong mối quan hệ giữa tài chính và tình hình kinh tế. Bởi lẽ, NSNN gắn kết chặt chẽ với các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội.
Thu là tiền đề giới hạn của chi, tức là có thu mới có chi và ngược lại, hiệu quả chi tiêu sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển và gia tăng nguồn thu. Mức giới hạn về chi tiêu tức là quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ là giới hạn lượng cung về thu và lượng cầu về chi. Cân đối NSNN là yêu cầu khách quan đối với phân bổ và điều hòa thu, chi NSNN trong sự vận động của nguồn lực tài chính, cũng là quá trình kinh tế do nhà nước vận dụng các biện pháp điều tiết tài chính để tiến hành kiểm soát và điều hòa sự phân phối nguồn lực tài chính xã hội. Cân đối NSNN không chỉ là tương quan chặt chẽ giữa tổng thu và tổng chi mà còn ở sự hài hòa, hợp lí trong cơ cấu giữa các khoản thu và các khoản chi NSNN để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể.
8 Vậy Cân đối NSNN là một trong những cân đối vĩ mô quan trọng của nền kinh tế, là một bộ phận của chính sách tài khóa, phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội mà nhà nước đã đề ra ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Mối tương quan giữa thu và chi ngân sách trong một tài khóa được biểu hiện qua 3 trạng thái sau: NSNN cân bằng: nhà nước huy động nguồn thu vừa đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu NSNN bội thu (thặng dư): thu NSNN lớn hơn chi NSNN. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do nhà nước đã huy động nguồn lực quá mức cần thiết, hoặc nhà nước đã không xây dựng được chương trình chi tiêu tương ứng với khả năng tạo nguồn thu; cũng có thể do nền kinh tế đang rất thịnh vượng, thu NSNN dồi dào và nhà nước chủ động sắp xếp thặng dư NSNN cho những tài khóa tiếp theo. NSNN bội chi (thâm hụt): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu NSNN.
Trong trường hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên ngân chủ quan và khách quan mà nghiên cứu sẽ bàn luận cụ thể ở các phần tiếp theo. Phần lớn các nước theo cơ chế phân cấp ngân sách mạnh mẽ, đặc biệt là các nước theo thể chế liên bang quy định cho phép ngân sách các cấp được quyền bội chi. Tuy nhiên, các nước đều có quy định điều kiện chặt chẽ nhằm đảm bảo sự phối hợp trong điều hành, duy trì ổn định vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia.