chương 1– dẫn nhập, trình bày khái quát bối cảnh chính sách, lý do lựa chọn vấn đề, câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu cũng như phạm vi và đối tượng. Chương 2 là cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và quy trình được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu. Chương 3, trên cơ sở lý thuyết và bộ tiêu chí “Hệ thống Thống kê Tài chính CP” (GFS), cơ sở tính và nguồn gốc số liệu những khiếm khuyết trong cách tính 5 BCNSNN của các tổ chức sẽ được chỉ ra. Chương 4 giải quyết những khiếm khuyết đã được nêu ở chương 3 qua việc xây dựng lại bức tranh NS và tính lại BCNSNN.
Chương 5, tác giả sẽ sử dụng khung phân tích của mình để chỉ ra những vấn đề tồn tại trong chính sách thu – chi, tính bền vững NSNN. Từ kết quả nghiên cứu này, chương 6 sẽ trình bày các kiến nghị chính sách và những hạn chế của đề tài để mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo. Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Tính bền vững của ngân sách Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Điều 1, Luật NSNN 2002).
“Tính bền vững NSNN đề cập đến vấn đề liệu tình trạng NS có thể duy trì được trong trung hạn mà không làm tăng thái quá tổng gánh nặng nợ và ảnh hưởng đến ổn định vĩ mô hay không?”2. Hay “bền vững tài khóa là điều kiện cần cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo.”3 Tính bền vững của NS bao gồm: Khả năng thanh toán của CP - Solvency; Tiếp tục tăng trưởng kinh tế ổn định - Growth; Thuế ổn định - Stability; Sự công bằng giữa các thế hệ - Fairness. Trong đó: - Khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính của CP. - Tiếp tục tăng trưởng ổn định: Chính sách tài khóa phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế.
- Thuế ổn định: Năng lực của CP để đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai với gánh nặng thuế hiện hành. Thuế ổn định cho các chương trình được tài trợ mà không phải sửa đổi gánh nặng thuế cho công dân. - Công bằng: Năng lực của CP để chi trả các nghĩa vụ hiện tại mà không chuyển gánh nặng chi phí lên sang các thế hệ tương lai. Hay, khả năng trả tiền cho các dịch vụ 2 WB (2000), Việt Nam: Quản lý tốt hơn nguồn lực nhà nước.
Đánh giá chi tiêu công 2000, Tr. 3 WB (2004), “Chương 2: Xu hướng Tài khóa và Bền vững tài khóa”, Việt Nam Quản lý Chi tiêu công để Tăng trưởng và Giảm nghèo, Tr. 15 7 công cộng hiện nay với nguồn thu hiện nay, chứ không phải chuyển gánh nặng chi phí cho các thế hệ tương lai hoặc từ chối các dịch vụ hiện có4. Chính sách tài khóa bền vững nghĩa là tỷ lệ nợ công/GDP giữ ổn định trong trung và dài hạn.
Nếu lãi suất thực vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế thực, theo trường phái tân cổ điển, để giữ tính bền vững của NS Chính phủ phải duy trì thặng dư NS cơ sở (primary surplus) ở mức hợp lý trong trung đến dài hạn và giữ mức dự trữ trung bình5. Ngân sách phải mang tính thực tế và được thực thi như dự kiến - độ tin cậy của NS; và giám sát rủi ro NS và tài chính phải mang tính toàn diện, công chúng phải tiếp cận được với thông tin về NS - Tính toàn diện và tính minh bạch6. Ngân sách phải là tấm gương phản ánh chính sách của CP về mặt tài chính, nên phạm vi của nó phải toàn diện (bao gồm tất cả các khoản thu chi, dù là nguồn trong nước hay thông qua viện trợ nước ngoài, và sử dụng tiêu chí phân loại như nhau đối với tất cả các loại chi tiêu), và nó phải công khai hóa tất cả các quyết định có ảnh hưởng hoặc rủi ro đối với tài chính nhà nước7. Như vậy, tính bền vững tài khóa có thể hiểu ngắn gọn là nguồn thu có tính bền vững - thu từ thuế và chi tiêu của CP hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế mà không chuyển gánh nặng chi phí cho các thế hệ tương lai.
“Hệ thống NS phải tuân thủ quy trình hợp lý và đáp ứng được những tiêu chuẩn về quản lý nhà nước bao gồm cả tính công khai, minh bạch. Kỷ luật tài khóa Kỷ luật tài khóa tổng thể (kỷ luật tài khóa/kỷ luật tài chính quốc gia), trước hết yêu cầu giới hạn tổng chi tiêu phải được thiết lập dựa vào các chi tiêu tổng thể vĩ mô như: quy mô 4 Schick (2005), “Sustainable Budget Policy: Concepts and Approaches”, OECD Journal on Budgeting, Vol. (2003), “Fiscal Sustianability and the South African Transformation Challenge”, South African Journal of Economics, 71: 806–829 6 WB (2005), Khung đánh giá kết quả thực hiện QLTCC – CT và TNTC, Tr. Chiavo – Campo và P.
Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì 8 S. Chiavo – Campo và P. Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì, Tr. 49 8 GDP; tỷ suất thu/GDP; sự gia tăng chi hàng năm trong tổng GDP; tỷ lệ nợ/GDP; tỷ lệ tiết đầu tư/GDP; mức độ thâm hụt cán cân thanh toán.
Thứ hai, nó yêu cầu chi ngân sách phải được thiết lập một cách độc lập và trước khi ra quyết định chi tiêu từng phần.9 Kỷ luật tài chính (kiểm soát chi tiêu) đòi hỏi phải có sự kiểm soát ở tất cả các cấp, bắt nguồn từ dự báo tốt về thu nhập cũng như chi tiêu. Ngắn gọn hơn kỷ luật tài chính trong quản lý tài chính công là dự báo đáng tin cậy đối với chức năng thu nhập, kiểm soát chi tiêu đối với chức năng chi tiêu và tổng thể ở cấp tổ chức. Bội chi ngân sách nhà nước NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi NS11. BCNSNN là bội chi NSTW được xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số chi NSTW và tổng số thu NSTW của năm NS12.
BCNSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN trong một năm, là hiện tượng NSNN không cân đối trong sự so sánh giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của Nhà nước. Phạm vi tính BCNSNN có thể là (i) BCNS toàn diện - là mức bội chi được xác định cho toàn bộ khu vực công; (ii) BCNS chính phủ - số bội chi của tất cả các cấp chính quyền gồm cả khoản nợ được cam kết, bảo lãnh của ngân hàng nhà nước; (iii) BCNS trung ương – chỉ liên quan đến hoạt động NSNN do chính quyền trung ương trực tiếp thực hiện13. 9 Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2009), Tài chính công và Phân tích chính sách thuế, NXB: Lao động xã hội, Tr. Chiavo – Campo và Sundaram P.
(2003), Phục vụ và Duy trì, NXB. Chính trị quốc gia, Tr 250 - 251 11 Quốc Hội (2002), Luật Ngân sách 12 Chính phủ (2003), “Nghị định 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/6/2003 hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách 2002”, Nghị định Chính phủ 13 Dẫn Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2009), Lý thuyết Tài chính công, NXB: Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, Tr. 228 -231 9 BCNSNN có 2 loại: BCNSNN cơ cấu – các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của CP; BCNSNN chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế14.
Các nghiên cứu trước về chủ đề liên quan Đến nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu tổng quát những trục trặc trong chính sách thu – chi NSNN. Nhưng, riêng đối với chi tiêu, nghiên cứu “Phân tích cơ cấu chi tiêu CP và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”15 đã cho kết quả tổng quan về thực trạng và mối quan hệ giữa cơ cấu chi NS và mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Trong đó, (i) các khoản chi đầu tư có hiệu ứng tích cực hơn so với các khoản chi thường xuyên trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản, giáo dục và đào tạo, y tế, và ngành “khác”; ngược lại cho ngành giao thông vận tải. (ii) Cả chi đầu tư và thường xuyên cho ngành giao thông vận tải, giáo dục và đào tạo, và ngành khác có vai trò tích cực lớn hơn đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn so với các khoản chi tương ứng cho ngành nông, lâm, thuỷ sản và ngành y tế.
Hạn chế của nghiên cứu này là bộ số liệu dùng cho phân tích trong ngắn hạn giai đoạn 2001-2005. Cũng nghiên cứu về chi tiêu công với tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu “Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở Việt Nam”16dựa chủ yếu vào mô hình lý thuyết về phân cấp chi tiêu CP của Davoodi và Zou (1998) để xây dựng mô hình xem xét mối quan hệ giữa phân cấp chi tiêu địa phương tại Việt Nam. Căn cứ bộ số liệu thu thập được của 31 địa phương trong hai năm 2004 và 2005, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS và kết quả cho thấy mối quan hệ ngắn hạn giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ trọng chi tiêu các cấp. Nghiên cứu cho thấy tính hiệu quả tương đối giữa chi đầu tư cấp huyện với chi đầu tư cấp tỉnh và chi khác của tỉnh (chi cho các trương trình mục tiêu) với chi đầu tư cấp tỉnh.
Nghiên cứu đưa ra kiến nghị nên chuyển dịch cơ cấu chi 14 Dẫn Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2009), Lý thuyết Tài chính công, NXB: Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, Tr. 233 - 235 15 Phạm Thế Anh (2008) 16 Hoàng Thị Chinh Thon, Phạm Thị Hương, Phạm Thị Thủy (2010) 10 tiêu các cấp ở các địa phương theo hướng tăng tỷ trọng chi đầu tư cấp huyện, giảm tỷ trọng chi đầu tư cấp tỉnh. Nghiên cứu về tính bền vững tài khóa, bài đánh giá “Xu hướng tài khóa và bền vững tài khóa”17 dựa vào bộ số liệu thu thập giai đoạn 1997-2003 cho rằng các xu thế NS Việt Nam phát triển theo hướng tích cực, cả về thu và chi, đảm bảo cân đối một cách khá vững chắc.