Phần Mở đầu: Trình bày sự cấp thiết của nghiên cứu; mục tiêu; câu hỏi; đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp và ý nghĩa của luận văn; cũng nhƣ tổng quan về các tài liệu của các nghiên cứu liên quan trƣớc đó Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng kiểm toán BCTC và các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT BCTC Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC: Trƣờng hợp các công ty kiểm toán Luan van 6 trên địa bàn TP. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC: Trƣờng hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn TP. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách rút ra từ kế quả nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC: Trƣờng hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn TP. Luan van 7 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tính đến nay, các nghiên cứu về CLKT là không nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài thực hiện.
Trong các nghiên cứu ở nƣớc ngoài, quan điểm CLKT đƣợc hiểu là khả năng KTV phát hiện và báo cáo về những sai phạm trọng yếu trong việc trình bày và công bố BCTC của khách hàng đƣợc kiểm toán (quan điểm của DeAgelo, 1981) [47]. Khi đó, khi đánh giá về các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT, kết quả chỉ ra rằng khả năng KTV phát hiện đƣợc sai phạm trọng yếu phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp của KTV; còn khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào tính độc lập của KTV (Lam and Chang, 1994) [42]. Nhiều cuộc nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng kiến thức tích lũy thông qua làm việc với khách hàng, các kinh nghiệm chuyên môn có liên quan đến sự đánh giá cao hơn về chất lƣợng của những ngƣời sử dụng dịch vụ kiểm toán (Bonner, 1990) [19]. Những cuộc nghiên cứu khác cũng cho rằng kiến thức và khả năng của KTV đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc khám phá ra các sai phạm trong quá trình kiểm toán (Owhoso et al.
Một cuộc nghiên cứu khác của O’Keefe et al (1994) [57] cũng chỉ ra có mối liên hệ giữa khả năng và kiến thức của KTV với việc tuân thủ các Nguyên tắc kiểm toán chung đƣợc chấp nhận (GAAPs) Trong khi đó nghiên cứu của Chen và cộng sự (2009) [24] đã ghi nhận một mối quan hệ tích cực giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và CLKT. Cụ thể, KTV thực hiện mức độ cao hơn của sự hoài nghi nghề nghiệp nếu nhận thấy có nhiều khả năng mâu thuẫn với một khách hàng hoặc thực hiện các thủ tục bổ sung khi có bất thƣờng (Shaub và Lawrence, 1996) [65], hoặc nhận thấy có nhiều khả năng để phát hiện gian lận, ít tin tƣởng vào khách hàng, và Luan van 8 nhiều khả năng phải đầu tƣ mức độ cao đối với các nỗ lực trong quá trình kiểm toán. Một hƣớng nghiên cứu khác có liên quan đến việc tính cách của KTV có ảnh hƣởng đến CLKT hay không cũng rất đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Kelly và Margheim (1990) [38], Raghunathan (1991) [60] đều cho rằng: Nếu KTV có xu hƣớng bỏ sót các thủ tục kiểm toán thì chắc chắn CLKT sẽ bị ảnh hƣởng theo chiều hƣớng tiêu cực.
Các tác giả này nhận định hành vi làm giảm CLKT đƣợc định nghĩa là hành động của KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán mà hậu quả của nó là làm giảm tính hiệu lực và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán thu thập đƣợc. Các nghiên cứu đi sau nhƣ của Maletta và Roberts (1996) [52] về mối quan hệ giữa sự tác động của hành vi làm giảm CLKT và áp lực thời gian đối với nhiệm vụ đƣợc giao đã chỉ rõ sự cảm nhận áp lực của mỗi KTV về thủ tục quản lý và soát xét CLKT của công ty mà họ đang làm việc có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với hành vi làm giảm CLKT. Đồng thời Wooten (2003) [66] cũng cho rằng, việc kiểm soát của chủ phần hùn và chủ nhiệm kiểm toán, kinh nghiệm của từng KTV về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, tính chuyên nghiệp của KTV, sự kiên trì và thái độ hoài nghi nghề nghiệp có ảnh hƣởng đến CLKT. Quan điểm của thập kỷ trƣớc cho rằng, quy mô công ty kiểm toán quyết định CLKT.
Với quan điểm đó, công ty kiểm toán lớn thƣờng cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lƣợng tốt hơn các công ty kiểm toán nhỏ (Lennox, 1999; Krishnan và Shayor, 2000) [43], [39]; các công ty kiểm toán danh tiếng hơn sẽ cung cấp CLKT tốt hơn (DeAgelo, 1981) [48]. Nghiên cứu của tác giả Chia – Chi Lee (2008) [25] cũng chỉ ra rằng quy mô công ty kiểm toán có ảnh hƣởng cực kì quan trọng tới việc thực hiện công việc kiểm toán, đặc biệt là trong mối quan hệ so sánh giữa các hãng kiểm toán quốc tế, hãng kiểm toán Luan van 9 quy mô lớn và hãng kiểm toán có quy mô vừa; tuy nhiên ảnh hƣởng này là không đáng kể khi so sánh giữa các hãng kiểm toán có quy mô vừa và hãng có quy mô nhỏ. CLKT còn phụ thuộc vào việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán (nhƣ dịch vụ tƣ vấn) sẽ làm giảm tính độc lập và do đó làm giảm CLKT (Chen, 2005) [23]. Quan điểm CLKT phụ thuộc vào phí kiểm toán cũng đã đƣợc đƣa ra.
Nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này đƣợc thực hiện bởi De Angelo (1981) [47] khi tác giả này giới thiệu mô hình Chi phí và Phí kiểm toán. Mô hình này giúp nhận ra mối quan hệ giữa chi phí cuộc kiểm toán và quan hệ với khách hàng. Đặc biệt, các hãng kiểm toán có xu hƣớng đƣa ra phí kiểm toán trong năm đầu tiên thực hiện hợp đồng thấp hơn so với chi phí thực tế mà công ty kiểm toán bỏ ra nhằm đạt đƣợc mức lợi nhuận cao hơn trong tƣơng lai từ việc duy trì hợp đồng khách hàng. Điều này cũng tạo ra một mối liên hệ về kinh tế với khách hàng, vì thế làm giảm tính độc lập của KTV và giảm CLKT.
Các nghiên cứu khác cũng cho rằng phí kiểm toán cao sẽ tạo thêm giá trị để KTV phát hiện ra các lỗi quản lý hoặc các sai phạm bất thƣờng trong BCTC (Defond và Jambalvo, 1993) [26]. Các công ty kiểm toán có nhiều khách hàng hơn sẽ thúc đẩy họ giữ gìn danh tiếng hơn và do đó CLKT cao hơn (Fransic và Wilson, 1988; Becker, 1998) [31], [20]. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy thị trƣờng chứng khoán đã phản ứng tích cực hơn đối với DN chuyển đổi chủ thể kiểm toán từ công ty kiểm toán nhỏ sang công ty kiểm toán lớn hơn (Eisenberg và Macey, 2003; Tilis, 2005) [28], [66]. Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa CLKT và sự tồn tại của kiểm toán nội bộ trong công ty khách hàng cũng đã đƣợc tìm thấy.
Theo đó, năm 1999, Abbott và Parker đã thực hiện cuộc nghiên cứu đối với các kế toán và nhận thấy rằng nếu có công ty khách hàng có một ủy ban kiểm toán độc lập và hữu hiệu thì CLKT sẽ gia tăng [17]. Luan van 10 Nhiệm kỳ của KTV đối với khách hàng cũng là một nhân tố đƣợc xem xét trong các nghiên cứu trƣớc đây liên quan tới CLKT. Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng nếu nhiệm kỳ của KTV càng ngắn thì KTV càng có ít hiểu biết về khách hàng (Odia J. Điều này dẫn đến một cuộc kiểm toán với chất lƣợng không cao.
Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc nhiệm kỳ kiểm toán càng dài thì CLKT càng đƣợc đảm bảo. Ngƣợc lại, rất nhiều cuộc nghiên cứu đƣợc tiến hàng bởi Adenuyi và Mieseigha (2013) [18]; Lin (2008) [45], … đã cho thấy nhiệm kỳ kiểm toán dài sẽ làm giảm CLKT do tính độc lập của KTV giảm. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, CLKT là không đồng nhất giữa các công ty kiểm toán có quy mô lớn (Libby, 2006) [50] và việc đảm bảo CLKT không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố của các công ty kiểm toán mà quan trọng hơn là phụ thuộc vào chính các KTV - những ngƣời trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán tại công ty khách hàng. Cấu trúc sở hữu vốn của khách thể kiểm toán cũng đƣợc xem là một nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT.
Dong và Zang (2008) [27] đã chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu là một trong những đặc điểm quan trọng của DN đƣợc kiểm toán, sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến Ban điều hành và vì vậy sẽ tác động đến CLKT. Theo kết quả nghiên cứu của Zureigat (2011) [68] tại Jordan, những DN mà quyền sở hữu phân tán về những nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, hoặc thuộc về các quỹ đầu tƣ, các công ty bảo hiểm thì có tác động tích cực đến CLKT. Ngƣợc lại, những DN mà quyền sở hữu tập trung phần lớn vào một hoặc một nhóm cổ đông, thì có tác động tiêu cực đến CLKT do nhóm cổ đông lớn này có thể ảnh hƣởng đến công tác quản lý, đặc biệt là khi trở thành thành viên Ban điều hành. Bên cạnh đó, các cuộc nghiên cứu không chỉ tập trung vào một nhân tố nhất định ảnh hƣởng đến CLKT, mà các tác giả gần đây đã đề cập đến hàng Luan van 11 loạt các nhân tố có thể ảnh hƣởng đến CLKT.
Chẳng hạn một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT của Kym Boon (2007) [41], cùng một nghiên cứu mở rộng của Kym Boon và các cộng sự (2008) [40] đã xác định 14 nhân tố thuộc về KTV và công ty kiểm toán nhƣ kinh nghiệm, khả năng chuyên sâu, ý thức, cam kết chất lƣợng của công ty kiểm toán, quy mô công ty., đồng thời đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố này tới CLKT và đƣa ra kết luận quan trọng, đó là nếu các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT đƣợc đảm bảo thì cũng đảm bảo sự hài lòng của ngƣời sử dụng đối với CLKT. Nghiên cứu của Lin Ling và Tepalagul Nopmanee Kong (2010) [44] đã chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT tập trung vào một số nhân tố liên quan đến tính độc lập của KTV, chẳng hạn nhƣ: tầm quan trọng của khách hàng, các dịch vụ ngoài kiểm toán, nhiệm kỳ KTV, mối quan hệ giữa khách hàng và đội ngũ KTV. Trong khi đó, Robert Knechel (2012) [62] lại cho rằng: nhiệm kỳ KTV, nhận thức của thị trƣờng về CLKT, phí cho các dịch vụ ngoài kiểm toán, áp lực công việc cũng nhƣ kiến thức chuyên môn… là những nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT.