Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước. Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2006 đến nay. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đến 2020. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC 1.
Khái quát về kiểm toán 1. Khái niệm về kiểm toán “Kiểm toán” là thuật ngữ nghề nghiệp và là hoạt động nghiệp vụ đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và đuợc chấp nhận ở Việt Nam từ những năm đầu đổi mới. Nói về kiểm toán sẽ là sự đề cập đến một lĩnh vực khá rộng, bởi nó song song tồn tại đối với tất cả mọi loại hình kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này tôi chỉ đề cập đến loại hình kiểm toán nhà nước, bởi đây là loại hình kiểm toán tuy ra đời sau nhưng lại có vai trò qua trọng đối vói sự phát triển kinh tế, nó cũng mang đầy đủ nhất các sắc thái của “kiểm toán”.
Đặc biệt, đối với kiểm toán nhà nước vấn đề kiểm soát chất lượng luôn là một bài toán khó nhưng bắt buộc các công ty kiểm toán, các nhà hoạch định chính sách phải tìm ra lời giải. Thực tế, có rất nhiều tiêu thức khách nhau để phân loại kiểm toán tuy nhiên cách thức thông dụng nhất là phân loại theo tổ chức bộ máy, bao gồm: kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Trong đó, kiểm toán độc lập được xem là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (Internation Federation of Acountants) thì: “Kiểm toán là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bảng khai tài chính” Nghị định số 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/03/2004 ghi rõ: “Kiểm toán là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và các doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của đơn vị này”.
Như vậy, kiểm toán là một hoạt động kiểm tra nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính trong những tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhằm bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và quy định pháp luật hiện hành. Và người làm công việc này thường được gọi là kiểm toán viên. 4 - Kiểm toán viên Nhà nước là công dân Việt Nam làm trong ngành KTNN, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan thuộc Kiếm toán Nhà nước Việt Nam; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vai trò, chức năng của Kiểm toán Nhà nƣớc - Thứ nhất, phát triển KTNN trở thành công cụ của Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước “Của dân, do dân và vì dân”.
Cần khẳng định: KTNN là 1 bộ phận trong hệ thống tổ chức của Nhà nước pháp quyền, thực hiện quyền lực của nhân dân thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát và giám sát việc sử dụng NSNN, tài sản công là những đồng tiền được đóng góp từ mồ hội công sức của dân cần có sự thống nhất về nhận thức, quan điểm về sự phân công nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động kinh tế, tài chính để tạo ra sự đồng thuận và sự ủng hộ, hợp tác cũng như việc giám sát của các ngành, các cấp và toàn xã hội đối với hoạt động kiểm tra, kiểm soát chi tiêu NSNN, đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan công quyền. - Thứ hai, minh bạch và công khai về tài chính là một trong các tiền đề, điều kiện quan trọng để hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Theo những quy tắc về minh bạch tài chính quốc gia của Quỹ tiền tệ thế giới, mỗi quốc gia cần có một Cơ quan Kiểm toán Quốc gia hoặc một tổ chức tương đương để kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của một số liệu và chính sách tài chính trước khi công bố. KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính độc lập của một Quốc gia, chịu trách nhiệm đánh giá độ trung thực của báo cáo tài chính; tính kinh tế và hiệu quả hoạt động quản lý; nếu những thông tin kiểm toán được công bố công khai rộng rãi sẽ làm tăng thêm niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện để xã hội và người dân được quyền tham gia giám sát.
Bởi vậy cần thể chế hóa chi tiết qui định về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán (trừ những bí mật nhà nước qui định). - Thứ ba, KTNN là một công cụ kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả, điều cơ bản nhất là phải đảm bảo được tính độc lập trong hoạt động KTNN. Tính độc lập là vấn đề cốt lõi của hoạt động KTNN, được hiểu trên hai góc độ: Kiểm toán phải được hoàn thành độc lập, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ và được đảm bảo sự độc lập thông qua các quy định, chế tài để tránh sự tác động trực tiếp hay gián tiếp. Điều này có nghĩa: hoạt động của KTNN phải được chế định trong đạo 5 luật gốc là Hiến pháp, điều này cũng phù hợp với Tuyên bố Lima tại Hội nghị lần thứ IX của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI): “Cơ quan kiểm toán tối cao chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách khách quan và hiệu quả khi nó độc lập với đơn vị được kiểm toán và được đảm bảo chống lại các ảnh hưởng từ bên ngoài”.
- Thứ tư, KTNN không chỉ dừng lại ở kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ mà cần triển khai và đẩy mạnh loại hình kiểm toán hoạt động. Qua kiểm toán hoạt động sẽ có điều kiện xác định tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động thu – chi tài chính nhà nước và những thất thoát do chi sai mục đích, sai chế độ cũng như khuất tất trong quyết định đầu tư hoặc thực hiện chương trình, dự án… Đồng thời, cần thiết triển khai kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Thực tế cho thấy đây là một trong những biện pháp phòng chống gian lận và tham nhũng rất có hiệu quả. Kết quả kiểm toán các hoạt động kinh tế của đơn vị trong nhiệm kỳ của cán bộ lãnh đạo được các cấp quản lý lấy làm cơ sở để đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ, thậm chí cách chức, bãi miễn hoặc truy tố trước pháp luật nếu cán bộ đó có sai phạm.
- Thứ năm, chức năng của KTNN là kiểm toán đối với mọi cơ quan tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; nhưng trên thực tế do hạn chế về nhân lực nên hàng năm chỉ mới tiến hành kiểm toán được khoảng trên 30% số NSNN cấp tinh thành phố, báo cáo tài chính của khoảng 20% số bộ, ngành ở Trung ương và cũng mới chỉ thực hiện thẩm định, kiểm tra một sô nội dung của báo cáo quyết toán NSNN… Bản thân KTNN vẫn chưa thể tự trang trải toàn bộ kinh phí hoạt động, vẫn có trường hợp phải nhờ vả vào các đơn vị được kiểm toán về phương tiện đi lại, về chỗ nghỉ trong quá trình kiểm toán… Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến việc đảm bảo yêu cầu độc lập và khách quan trong hoạt động kiểm toán. Để nâng cao chất lượng kiểm toán, đảm bảo thi hành đầy đủ các qui định của Luật KTNN đòi hỏi phải bổ xung thêm cán bộ, kiểm toán viên, nhất là những chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực mà KTNN có trách nhiệm kiểm toán. Đồng thời, Nhà nước cần đảm bảo kinh phí đầy đủ cho các hoạt động kiểm toán, giảm dần và tiến tới độc lập cơ bản kinh phí, hạn chế tối đa việc nhờ vả các đơn vị được kiểm toán. 6 - Thứ sáu, cần đảm bảo và tôn trọng tối đa tính độc lập của KTNN, đặc biệt là trong quyết định kế hoạch kiểm toán và tiến hành các hoạt động kiểm toán.
Tính độc lập là vấn đè cốt lõi và xương sống của hoạt động kiểm toán, được hiểu theo cả hai khía cạnh: Kiểm toán phải hoàn thành độc lập, khách quan, vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ và phải đảm bảo sự độc lập bằng các qui định, các chế tài để tránh mọi sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi tiến hành hoạt động nghiệp vụ, kiểm toán có thể tiếp cận đày đủ các bằng chứng và nguồn gốc thông tin; vô tư và khách quan trong thu thập xem xét, đánh giá thông tin, từ đó có những kết luận, xác nhận tin cậy về thực trạng hoạt động kinh tế tài chính, về sự đầy đủ và chính xác của thông tin. Hoạt động kiểm toán và kết quả kiểm toán làm yên lòng những người sử dụng thông tin kế toán, sử dụng kết luận của kiểm toán. Đó là những kết luận có bằng chứng được đánh giá.
Hộ đồng Dân tộc và các Ủy ban Quốc hội, Ban Kinh tế Ngân sách, các ban của hội đồng nhân dân hoàn toàn yên tâm và có căn cứ pháp lý để thảo luận, đưa ra nghị quyết về những vấn đề kinh tế - tài chính. Tất nhiên các kết luận của kiểm toán cần được đánh giá là không có dấu hiệu thiên vị, không phiến diện thiếu căn cứ, thiếu khách quan hoặc mang tính chủ quan võ đoán… Cần có cơ chế đảm bảo và kiểm tra tính độc lập, khách quan của từng kiểm toán viên trong mỗi cuộc kiểm toán. - Thứ bảy, đảm bảo độ tin cậy của thông tin do kiểm toán xác nhận và cung cấp. Để Quốc hội có căn cứ thảo luận và quyết định, thực hiện các hoạt động giám sát đòi hỏi phải có đủ những tư liệu thông tin tối thiểu cần thiết.
Thông tin cung cấp cho Quốc hội phải minh bạch và có độ tin cậy cao. Trước hết là các thông tin về chiến lược và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, định hướng tài chính ngân sách, những đánh giá về chính sách tài chính, ngân sách trung hạn, nguồn thu và nhiệm vụ chi.