CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới chất lượng thông tin kế toán Nghiên cứu về CLTT kế toán là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tài chính kế toán. TTKT là sản phẩm của hệ thống kế toán (Mulyani và Arum, 2016), được các bên có liên quan như cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ… sử dụng làm cơ sở để ra quyết định. Các thông tin kém chất lượng sẽ gây ảnh hưởng tới hiệu quả quyết định của người sử dụng thông tin.
Ví dụ nhà đầu tư khi sử dụng TTKT thiếu chính xác sẽ dẫn tới việc đánh giá sai về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa các quyết định đầu tư bất lợi; chủ nợ sử dụng các TTKT từ doanh nghiệp thiếu trung thực trong quá trình thẩm định có thể dẫn tới sai lầm trong việc ra quyết định cho vay hoặc thu hồi nợ. CLTT kế toán thể hiện tính hữu ích của thông tin (Azar và cộng sự, 2019), cho thấy sự đáp ứng của thông tin đối với nhu cầu của người sử dụng (Mulyani và Arum, 2016). Vì vậy câu hỏi được đặt ra là TTKT như thế nào được coi là đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, hay nói cách khác CLTT kế toán cần đảm bảo các đặc điểm như thế nào? Các nghiên cứu về CLTT kế toán được các nhà khoa học tập trung vào một số thuộc tính của TTKT như tính trung thực, thích hợp, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể kiểm chứng được (Jonas và Banchet, 2004). Việc đề xuất các thuộc tính này của TTKT bắt nguồn từ khuôn khổ các khái niệm về TTKT ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Hoa Kỳ (FASB), hoặc xuất phát từ quy định của nước sở tại.
Vào năm 1966, Hiệp hội kế toán Mỹ (AAA) đã công bố một báo cáo về nền tảng lý thuyết của kế toán (A statement of Basic Accounting Theory) và nêu rõ rằng mục tiêu chính của lý thuyết kế toán là phải đưa ra được các thuộc tính của thông tin nhằm đảm bảo tính hữu ích đối với người sử dụng thông tin. Các đặc tính về CLTT kế toán được Hội đồng chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ FASB đề xuất lần đầu vào năm 1980, theo đó TTKT sẽ hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định khi đảm bảo được hai thuộc tính cơ bản là tính thích hợp (relevance) và tính tin cậy (reliability), bên luan an 10 cạnh các thuộc tính có liên quan là phản hồi, dự báo, kịp thời, có thể kiểm chứng, trung lập, trung thực, có thể so sánh. Sau này, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB (2001) đã đưa ra các khái niệm làm nền tảng cho việc lập và trình bày BCTC, theo đó, CLTT kế toán cần đảm bảo các đặc tính cơ bản là dễ hiểu, thích hợp, tin cậy và so sánh được. Như vậy, IASB và FASB có sự tương đồng nhất định về quan điểm, từ đó làm tiền đề cho việc hợp nhất khung khái niệm của IASB và FASB (2010), nhằm hướng tới việc phát triển một khuôn khổ khái niệm chung giữa hai tổ chức, mà trước hết là thống nhất về mục tiêu và các thuộc tính về CLTT.
Theo đó CLTT kế toán được hợp nhất với chất lượng BCTC, TTKT phản ánh trên BCTC được coi là hữu ích khi đảm bảo hai thuộc tính cơ bản là thích hợp (relevance), trung thực (faithful representation). Ngoài ra, quan điểm hòa hợp của IASB và FASB (2010) còn đề cập tới các thuộc tính làm gia tăng CLTT: có thể so sánh (comparability), có thể kiểm chứng (verifiability), kịp thời (timeliness) và dễ hiểu (understandability). Tại Việt Nam, trước yêu cầu khách quan về việc xây dựng một bộ chuẩn mực kế toán chung, năm 2002, Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam ra đời, trong đó trước hết quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, các yêu cầu kế toán cơ bản. Theo đó, TTKT phải đảm bảo yêu cầu về tính trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh, trong đó tính trung thực được coi là đặc tính cơ bản của TTKT.
Từ quy định về các thuộc tính thông tin, khi nghiên cứu về CLTT kế toán, các nhà khoa học thực hiện theo hai hướng: một là, nghiên cứu CLTT kế toán tổng hợp theo các thuộc tính về thông tin, trong đó, dữ liệu thường là dữ liệu sơ cấp, thu thập thông qua khảo sát; hai là, nghiên cứu theo từng thuộc tính riêng lẻ, trong đó, dữ liệu thường là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ BCTC của các công ty và dữ liệu thị trường. Đối với các nghiên cứu xây dựng thang đo tổng hợp về CLTT kế toán theo các thuộc tính thông tin: Jonas và Banchet (2000) đã khảo sát và xây dựng thang đo tổng hợp về CLTT trên nền tảng của FASB (1980) gồm hai đặc tính quan trọng nhất là tính tin cậy và thích hợp, cùng với 11 thuộc tính có liên quan bao gồm: phản hồi, dự báo, kịp thời, luan an 11 có thể kiểm chứng, trung lập, trung thực, có thể hiểu được, nhất quán, có thể so sánh, rõ ràng và đầy đủ. Phát triển từ mô hình được khởi xướng bởi Jonas và Banchet (2000), Beest và cộng sự (2009) đã xây dựng 21 thuộc tính cho hai đặc điểm cơ bản của CLTT kế toán FASB và IASB là thích hợp, trung thực, và ba đặc điểm bổ sung: có thể so sánh, có thể hiểu, và tính kịp thời. Sau này năm 2013, các tác giả đã phát triển mô hình nghiên cứu của mình lên 33 thuộc tính để giải thích cho năm đặc điểm nói trên.
Trong khi đó, nghiên cứu của Bukenya (2014) đo lường CLTT kế toán trong lĩnh vực công tại Uganda thông qua việc xây dựng thang đo tổng hợp gồm: tin cậy, dễ hiểu, thích hợp, chính xác và kịp thời. Thông qua dữ liệu sơ cấp thu thập từ khảo sát, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của CLTT kế toán tới hiệu quả tài chính của khu vực công với tương quan dương. Ngoài ra, trong nghiên cứu của Gacheru (2017) tại Kenya, tác giả đã tiến hành khảo sát 200 người trong lĩnh vực kế toán tài chính và đề xuất các biến đo lường CLTT kế toán bao gồm tính tin cậy, thích hợp và có thể so sánh. Kết quả nghiên cứu cho thấy CLTT kế toán có tác động dương tới hiệu quả của việc ra quyết định.
Kế thừa các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam, các nhà khoa học cũng đã xây dựng các thang đo tổng hợp để đo lường chất lượng TTKT. Nguyễn Tố Tâm (2014) đã tiến hành phỏng vấn chuyên gia, xây dựng thang đo và khảo sát các cán bộ đảm nhiệm trực tiếp công tác kế toán, tài chính, kiểm soát thuộc các công ty niêm yết thuộc Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh để đo lường, đánh giá CLTT kế toán và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ với CLTT kế toán. Trong phần đánh giá về CLTT kế toán, tác giả đã xây dựng thang đo dựa trên 6 yếu tố cơ bản của TTKT, bao gồm: tính thích hợp, trung thực, xác nhận, dễ hiểu, có thể so sánh và kịp thời. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố cơ bản về CLTT kế toán đều được đánh giá tốt, ngoại trừ yếu tố kịp thời được đánh giá trên mức trung bình.
Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2014) đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới CLTT của các công ty niêm yết, trong đó việc đo lường CLTT dựa trên nền tảng quan điểm của các tổ chức kế toán như FASB, IASB và Hệ thống Chuẩn mực kế luan an 12 toán Việt Nam, bao gồm: tính phù hợp, đáng tin cậy, trung thực và khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được, tính xác nhận. Bài nghiên cứu dừng lại ở việc đề xuất mô hình, tuy vậy đây có thể được coi là cơ sở để tác giả vận dụng kiểm định tại TTCK Việt Nam. Phạm Quốc Thuần (2015) đã tổng hợp một số công trình nghiên cứu về CLTT kế toán. Bằng phương pháp phân tích, nghiên cứu đã kết luận mô hình đo lường về CLTT kế toán được công bố bởi IASB và FASB là mô hình đạt được sự đồng thuận của phần lớn nhà nghiên cứu, phù hợp với xu hướng hòa hợp và hội tụ quốc tế về chuẩn mực kế toán.
Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đã đo lường CLTT BCTC bằng cách sử dụng thang đo 16 thuộc tính dựa trên đặc điểm chất lượng của IASB và FASB. Kết quả nghiên cứu cho thấy CLTT kế toán ở dưới mức trung bình, thậm chí có 158/195 công ty trong mẫu nghiên cứu chiếm 81,1% có chất lượng yếu kém, thể hiện chủ yếu ở hai hoạt động trình bày và công bố báo cáo. Đối với các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán theo từng đặc tính riêng lẻ: các nhà khoa học tập trung vào hai đặc tính quan trọng nhất của thông tin đó là tính trung thực và tính thích hợp (FASB và IASB, 2010) Nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán gắn liền với tính trung thực của thông tin Dựa trên khung khái niệm của các tổ chức quốc tế về kế toán, nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1996), Beasley (1996), Jonas & Blanchet (2000), Willekens (2008) đã xây dựng cách đo lường về CLTT theo đặc điểm trung thực với ba yếu tố: tính đầy đủ (complete), trung lập (neutral), không có sai sót trọng yếu (free from material error). Nhằm đo lường CLTT kế toán, các nhà khoa học đã nghiên cứu về CLTT kế toán thông qua hai khái niệm là quản trị lợi nhuận và sai sót trên BCTC.
Theo đó, TTKT được coi là trung thực khi không có hiện tượng quản trị lợi nhuận tức là thông tin đã đảm bảo trung lập, khách quan, đầy đủ; và không có các sai sót trên BCTC đồng nghĩa với việc không còn sai sót trọng yếu. Các nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên khía cạnh quản trị lợi nhuận luan an 13 Như đã phân tích, CLTT kế toán được đảm bảo khi thông tin phản ánh trung thực tình hình về hoạt động kinh doanh của công ty, hay nói cách khác thông tin cần phải được phản ánh đầy đủ, khách quan, trung lập, không bị can thiệp làm phát sinh các điều chỉnh như thay đổi các ghi chép kế toán, điều chỉnh các ước tính, hay khai khống các thông tin về tài sản, thu nhập của đơn vị…, làm sai lệch thông tin khi công bố.