lời mở đầu “giải thích các chuẩn mực kiểm toán” của Vương Quốc Anh thì: "K iểm toán là s ự kiểm tra đ ộ c lập và là s ự b à y tỏ ý kiêh v ề những bản khai tài chính của m ộ t x í nghiệp do m ộ t kiểm toán viên được b ổ nhiệm đ ể thực hiện nhứng công việc đó theo đúng với bất c ứ nghĩa vụ p h á p định có liên quan ”. Theo quan niệm hiện đại của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kì : "K iểm toán là quá trình m à theo đó m ột cá nhân độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá r ỗ rà n g th ô n g tin cố th ể lượng hoá có liên quan đến m ộ t chủ th ể kinh t ế riêng b iệt nhằm m ục đ ích x á c định và báo cáo m ức dộ p h ù hợp giữa các thông tin có th ể lượng hoá với cá c tiêu chuẩn 'đ ã được thiết lập”. [22tr34] Còn theo quan niệm trong giáo dục và đào tạo Kiểm toán ở Cộng hoà Pháp thì: "K iểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của m ột tổ chức do m ộ t người đ ộ c lập, đủ danh nghĩa gọi là m ột kiểm toán viên tiến hành đ ể khảng định rằng những tài khoản đó p h ả n ảnh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che d ấ u s ự gian lận và chúng được trình bầy theo m ẫu chính thức của lu ậ t định ”.[22tr34] Các định nghĩa trên tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác định song chung quy đều bao hàm vào khái niệm KT với 5 yếu tố cơ bản là: Chức năng KT; Đối tượng trực tiếp của KT; Khách thể KT; Chủ thể KT (người thực hiện hoạt động) và Cơ sở thực hiện KT. Vì thế theo quan điểm chung nhất về kiểm toán của các nhà kiểm toán chuyên nghiệp thế giói thì kiểm toán được hiểu như sau: K iểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có k ỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá cá c bằng chứng v ề các thông tin có th ể định lượng của m ột đơn vị nhằm m ục đích xá c nhận và báo cáo v ề m ức độ p h ù họp giữa các thông tin này với các chuẩn m ực đ ã được x â y dựng.
9 Cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã dần đi đúng quỹ đạo và phát triển rất mạnh ở hầu khắp các nước trên thế giổi. Trên thế giới có những hãng kiểm toán, liên đoàn, Hội kiểm toán xuyên Quốc gia như: cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI), cơ quan kiểm toán tối cao Quốc tế (INTOSAI) hoạt động nổi tiếng vì đạt đến chuẩn mực nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp trong kiểm toán. Việt Nam đang trên con đường phát triển với mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá, công tác kiểm toán cần được tăng cường và phát huy vai trò của nó, việc học hỏi kinh nghiệm kiểm toán của các tổ chức kiểm toán phát triển trên thế giới là một việc làm thiết thực, đưa kinh tế Việt Nam phát triển, hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Phân loại Kiểm toán Hoạt động kiểm toán có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Điều này cũng chính là đáp ứng yêu cầu tổ chức tốt công tác kiểm toán đồng thời giải quyết nhiệm vụ cơ bản của tổ chức kiểm toán. Việc phân loại kiểm toán dựa trên sự khác biêt tương đối trong các hoạt động kiểm toán và cơ cấu tổ chức kiểm toán, trong đó chủ yếu là: 1.1, Phân loại theo loại hình kiểm toán M ột là: Kiểm toán hoạt động Kiểm toán hoạt động là sự xem xét lại tất cả các thủ tục và phương pháp hoạt động của một tổ chức nhằm mục đích đánh giá tính hiệu quả, tính hiệu lực và hiệu năng trong hoạt động. Kiểm toán hoạt động có thể thực hiện việc kiểm tra việc huy động phân phối và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, kiểm tra hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh, phân phối và sử dụng các khoản thu nhập, bảo toàn và phát triển vốn, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận, chức năng trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Điều có ý nghĩa to lớn và quyết định đối với kiểm toán hoạt động là việc xác định chuẩn mực, các thông số để đánh giá hiệu quả, hiệu năng của một tổ chức, một chức năng trong quá trình hoạt động.
Đây là vấn đề quản lý đồng thời là vấn đề kinh tế, kỹ thuật và nghiệp vụ phức tạp. 10 Kết quả của kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính bản thân đơn vị. Vì vậy các chuẩn mực đặt ra hết sức đa dạng, phong phú, không có chuẩn mực chung cụ thể. Việc lựa chọn chuẩn mực phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan của kiểm toán viên.
H ai là: Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán tuân thủ hay còn gọi là kiểm toán quy tắc, là loại kiểm toán nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước, các quy định của cơ quan có thẩm quyền, hay nội quy, quy chế của nội bộ đơn vị. Các chuẩn mực của kiểm toán tuân thủ là các chính sách của nhà nước, các quy định về chế độ tài chính kế toán, thuế hay quyết định, nghị quyết của Hội đổng quản trị, Ban giám đốc. Kết quả cuối cùng của nó là phục vụ cho các nhà quản lý và các cơ quan thẩm quyền liên quan. Ba là: Kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính và việc các báo cáo tài chính đó có được lập theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành hay không.
ở các nước có nền kinh tế phát triển, kiểm toán báo cáo tài chính thường do các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, các chủ thể đầu tư tài chính, chính phủ, cơ quan thuế, ngân hàng, khách hàng có yêu cầu. Phân loại theo chủ thể kiểm toán M ột là: Kiểm toán Nhà nước (State A u dit) Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm toán do các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước (Tài chính, thuế .) và cơ quan kiểm toán Nhà nước chuyên trách tiến hành. Đối tượng của kiểm toán nhà nước là các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước.
Ngoài ra, kiểm toán Nhà nước còn 11 thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của các đơn vị nói trên. Thực hiện việc kiểm toán Nhà nước là nhằm đánh giá, xem xét việc chấp hành các chính sách, chế độ và nguyên tắc quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước, xác nhận tính đúng đắn, hớp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các đơn vị, định giá tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và nguồn kinh phí của nhà nước. Từ đó, có những góp ý, yêu cầu đơn vị được kiểm toán sửa chữa sai phạm, kiến nghị với cấp có thẩm quyền những mặt còn hạn chế trong quản lý kinh doanh, hoặc có đề xuất với Chính phủ về việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý kinh tế, tài chính và chế độ kế toán nếu cần thiết. H ai là: Kiểm toán độc lâp (Independent A u d it) K iể m toán độc lập là hình thức kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên độc lập hành nghề trong các tổ chưc kiểm toán chuyên nghiệp như các công ty, các hãng kiểm toán và các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp.
Thực chất kiểm toán độc lập là loại hoạt động dịch vụ tư vấn nên được pháp luật thừa nhận và bảo bộ. Kiểm toán độc lập hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, ngoài ra tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, kiểm toán độc lập còn có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán. Mặt khác, một cuộc kiểm toán được tiến hành bed những kiểm toán viên độc lập còn nằm trong kế hoạch, chủ chương của Nhà nước khi có yêu cầu. Khi muốn có được những thông tin kế toán chính xác, trung thực, lãnh đạo Ngân hàng không chỉ dựa vào những số liệu do bộ phận kế toán đưa ra, mà cần phải kết hợp với sự xác nhận một cách khách quan, trung thực về số liệu trên báo cáo tài chính đó của kiểm toán độc lập.
Trong trường hợp khác, nếu cơ quan Nhà nước cấp trên muốn biết chính xác về những thông tin phản ánh tình hình kinh doanh của một Ngân hàng thương mại nào đó, cơ quan Nhà nước đó có thể thuê một hãng kiểm toán độc lập tại địa bàn ngân hàng đó đang hoạt động hoặc một hãng kiểm toán độc lập ở một địa phương khác đến kiểm toán Ngân hàng đó (thường là thuê hãng kiểm toán cùng địa bàn vì lượng thông tin nắm bắt về ngân 12 hàng này sẽ lớn hơn, chính xác và tổng hợp hơn). Kinh phí thuê hãng kiểm toán này do cơ quan Nhà nước cấp trên đó chi trả. Các kiểm toán viên nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của kiểm toán viên bên ngoài có thông qua ý kiến cấp lãnh đạo của NHTM đó. Ba là: Kiểm toán nội bộ (Internal Audit - KTNB) Có nhiều khái niệm về kiểm toán nội bộ, nhưng một khái niệm chung nhất được thừa nhận và sử dụng rộng rãi là: “Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức đ ể xem xét và đánh giá hoạt động của tổ chức đó với tư cách là một sự trợ giúp đối vói tổ chức đó”.[lltr9 ] Kiểm toán nội bộ là công việc do các kiểm toán viên chuyên trách hoặc kiêm nhiệm của một tổ chức thực hiện, là chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội bộ của đơn vị, Phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động của đơn vị ở tất cả các cấp quản lý khác nhau.