Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Nhận xét và kiến nghị 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm mạng xã hội Facebook 2.1 Mạng xã hội (MXH) Ilaria Liccardi và các cộng sự năm 2007 đã đưa ra một cách hiểu MXH là cấu trúc của các điểm đại diện cho các cá nhân (hoặc tổ chức) và mối quan hệ giữa họ trong miền nhất định. Vì vậy, MXH thường được xây dựng dựa trên độ mạnh của các mối quan hệ và sự tin tưởng giữa các cá nhân (điểm nút). Và MXH với các ứng dụng kết nối trên máy tính được phát triển với các mục đích là tạo và duy trì mạng lưới xã hội bạn bè online hoặc thực tế đến tái hợp các bạn vè trong quá khứ. Boyd và Nicole B.
Ellison 2007 thì các trang MXH là những dịch vụ cho phép cá nhân thực hiện 3 loại hành động: (1) xây dựng hồ sơ công khai hoặc bán công khai trong một hệ thống giới hạn, (2) nêu rõ danh sách những người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối và (3) xem và duyệt qua danh sách các mối quan hệ của họ và của những người khác trong hệ thống. Tác giả Trần Hữu Luyến và Đặng Hoàng Ngân 2014 cũng đưa ra khái niệm về MXH là, tập hợp các cá nhân với các mối quan hệ một hay nhiều mặt được gắn kết với nhau. Với hướng tiếp cận xã hội, nhấn mạnh yếu tố con người, MXH được nghiên cứu trên quan hệ cá nhân – Cộng đồng để tạo thành mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội được hiểu là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi là actor.Khi mạng lưới xã hội này được thiết lập và phát triển thông qua phương tiện truyền thông internet, nó được hiểu là MXH ảo. Như vậy có thể hiểu MXH là một dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau.
Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo thì khoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vô nghĩa. 15 Từ các quan điểm của các tác giả ở trên có thể hiểu MXH là một mạng lưới ảo liên kết các cá nhân sử dụng internet mà các cá nhân trong mạng lưới này có các đặc điểm và mục đích vô cùng đa dạng Hiện nay ở Việt Nam các MXH phổ biến có thể nhắc đến đầu tiên là Facebook, đây cũng là MXH phổ biến nhất hành tinh với hơn 2,2 tỷ người dùng, và ở Việt Nam là 61 triệu người dùng hàng tháng, theo sau là Instagram với 6,2 triệu người dùng và twitter với 684,5 nghìn người dùng mỗi tháng. Các MXH này có tính chất và cách sử dụng khác nhau khi mà Facebook tập chung đa dạng vào nhiều nội dung nhất từ việc đăng bài, video và cả hình ảnh trong khi Instagram thì tập chung vào việc chia sẻ hình ảnh và Twitter thì tập chung đến việc chia sẻ các dòng trạng thái ngắn.2 Vai trò của mạng xã hội Mạng xã hội với tư cách là một phương tiện truyền thông thì nó có rất nhiều vai trò khác nhau. Nhưng ta có thể kể đến một số công dụng đối với trường đại học như sau sau.
Trước hết MXH giúp mọi người tiếp nhận và cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, nếu chúng ta có thể bỏ qua tính chân thực của sự đa dạng các tin tức được đưa lên MXH thì tính cập nhật của MXH trong xã hội ngày nay còn nhanh hơn cả các phương tiện truyền thông chính thống như báo đài hay truyền hình. Vì sự phổ biến của MXH nên nếu có thể tập hợp các sinh viên của một lớp, một khoa, hay của trường vào trong một MXH thì việc quan lý các sinh viên sẽ trở nên vô cùng đơn giản. Mạng xã hội cũng rất có ích trong việc công bố và phổ biến các nghiên cứu khoa học với các nhà khoa học vì tính kết nối của nó, một nghiên cứu có thể được phổ biến đến người đọc vô cùng dễ dàng nếu người dùng biết cách tận dụng mạng xã hội. Ngoài ra, mạng x sã hội còn có những ích lợi vô cùng lớn với các sinh viên khi mà có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin trên mạng xã hội, với đối tượng vô cùng đa dạng với nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau thì các sinh viên nếu có thể kết nối và trao đổi, bàn luận các thông tin với bạn bè, giảng viên hay kể cả các chuyên gia đầu ngành của các lĩnh vực khác nhau trong xã hội.3 Sử dụng mạng xã hội Việc sử dụng mạng xã hội của sinh viên có thể coi như một hoạt động xã hội khi mà chủ thể sử dụng trong luận văn là các sinh viên sử dụng mạng hội với các yếu tố động cơ, mục đích, phương tiện, công cụ và cũng có cả hoàn cảnh và điều kiện cụ thể cho việc sử dụng này Mỗi hành động như đăng bài, bày tỏ cảm xúc hay chia sẻ trên MXH đều có ý nghĩa của riêng nó, có thể là việc chia sẻ những trải nghiệm, thể hiện sự cảm thông, chia sẻ niềm vui hoặc có thể là để kiếm tiền…đây có thể có hoặc không là mục đích sử dụng MXH của sinh viên nhưng có thể chắc chắn rằng các sinh viên đều sử dụng MXH với một mục đích nhất định, và các mục đích này hướng đến người khác, chính là tất cả người sử dụng MXH hoặc có thể với các nhóm nhỏ hơn chỉ là các nhóm bạn bè, nhưng khi họ thực hiện một hành động trên MXH tức là họ đã mong sự phản hồi của người khác về hành động của họ.
Việc sử dụng MXH là một hoạt động sử dụng trực tiếp nhưng những tương tác trên MXH lại là những tương tác giản tiếp, MXH có thể coi như một phương tiện truyền thông, mọi hoạt động trên MXH đều được thực hiện thông qua công cụ trung gian là internet và các ứng dụng được thiết kế để người dùng sử dụng tương tác và phản hồi. Với sự phổ biến của nternet với đa dạng các phương thức kết nối như 3G, Wireless, ADSL cũng như sự phổ biến của các phương tiện công nghệ như điện thoại thông minh, máy tính, Laptop hay cả đồng hồ thông minh, tivi thông minh đã khiến cho mạng xã hội đã phổ biến lại càng phổ biến hơn.4 Khái niệm mạng xã hội Facebook Facebook là website mạng xã hội ảo cho phép người dùng truy cập miễn phí được Mark Zuckerberg và các cộng sự của mình sáng lập vào năm 2004. Người dùng mạng xã hội này có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo các tiêu chí như quốc gia, thành phố, nơi làm việc, trường đại học. để liên kết với người khác.
Khả năng truyền tải và lưu trữ dữ liệu tuyệt vời của Facebook cho phép việc truyền tải và lưu trữ dữ liệu với độ bao phủ dung lượng đa dạng. Facebook cho phép người dùng lưu trữ thông tin và sắp xếp có 17 hệ thống theo thời gian sử dụng. Nhờ đó, người dùng có thể tìm kiếm lại các dữ liệu đã từng đăng tải hoặc tương tác trên Faecbook.2 Khái niệm ảnh hưởng Về khái niệm “ảnh hưởng”, có thể hiểu, ảnh hưởng là “sự tác động (của tự nhiên – xã hội) để lại kết quả trên các sự vật, hiện tượng hay con người”. Với cách hiểu về ảnh hưởng như vậy, có nhận định, ảnh hưởng của mạng xã hội là những tác động do mạng xã hội tạo ra và để lại kết quả nhất định (tích cực/tiêu cực) lên một đối tượng nào đó.
Ảnh hưởng của mạng xã hội đến học tập và đời sống của sinh viên là những tác động của mạng xã hội gây nên sự biến đổi trong học tập và đời sống của sinh viên. Trên cơ sở tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau, có thể định nghĩa mạng xã hội là “dịch vụ kết nối các thực thể truyền thông trên internet với nhau thành những cụm bạn nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian”.3 Khái niệm sinh viên Sinh viên là một nhóm xã hội đặc thù, với các đặc điểm chung về tuổi tác, hầu hết sinh viên đều ở trong lứa tuổi thanh niên và thường bắt đầu từ 17,18 tuổi và kết thúc ở tuổi 24, 25. Đây là giai đoạn mà thể chất và tinh thần của họ phát triển hoàn thiện, vì vậy họ có khả năng tập trung, và khả năng tiếp thu kiến thức rất tốt, và có ý nghĩa quan trọng trong việc bộc lộ và hoàn thiện nhân cách của họ. Trong giai đoạn này các sinh viên thường có các động cơ về nhận thức khoa học, tức là việc tiêp thu kiến thức; cơ hội nghề nghiệp; động cơ xã hội, tức là việc giao tiếp rộng; tự khẳng định bản thân, tức là muốn được thừa nhận và được nhiều người yêu thích và quan tâm; và cuối cùng là động cơ vụ lơi tức là những lợi cho cho cá nhân.
Các động cơ này không cố định và biến đổi trong quá trình học, cũng như có mức độ quan trọng khác nhau với mỗi sinh viên khác nhau. Từ những thông tin trên thì có thể nói trong giai đoạn này việc hoạt động xã hội và giao lưu bạn bè là một phần không thể thiếu trong đời sống của các sinh viên. Họ thích kết bạn và muốn được kết bạn, việc ở trong một nhóm bạn bè sẽ giúp họ được thừa nhận, có thể thể hiện khả năng, phát 18 triển bản thân và có thể thực hành việc hoạt động nhóm trước khi thực sự tham gia thực hiện một công việc cụ thể sau khi hoàn thành việc học trại trường của mình.4 Khái niệm sự tập trung Sự tập trung (theo tiếng Anh được gọi là Concentration) là một trạng thái của con người, biểu hiện qua việc dồn hết mọi sự chú ý vào một nội dung, vấn đề cụ thể mà không để ý tới những tác động bên ngoài. Quá trình tập trung giúp con người lưu trữ thông tin một cách sâu hơn từ đó cải thiện khả năng của não bộ.
Tập trung trong học tập là quá trình chúng ta dành thời gian, công sức cho việc học tập, không để các yếu tố bên ngoài chi phối nhằm mục đích đạt được mục tiêu đã đề ra trước đó. Tuy nhiên trên thực tế, việc học sinh – sinh viên hiện nay có thể tập trung hoàn toàn vào việc học thường rất khó. Bởi lẽ hiện nay có rất nhiều nguyên nhân bao gồm cả khách quan lẫn chủ quan khiến họ khó có thể hoàn toàn tập trung.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.