CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIEN CUU 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến mạng xã hội Facebook Nghiên cứu về mặt định lượng về mạng xã hội phải kế đến “Mạng xã hội với thanh niên Việt Nam — Thực trạng và giải pháp”, đưới sự tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted). Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về mạng xã hội ở khía cạnh truyễn thông. Lê Minh Thanh (2010) qua phân tích tài liệu trên blog và các trang mạng xã hội trực tuyến, trong đó tập trung vào hình thức và nội dung trong khoảng thời gian từ 2005-2010 đã tìm ra những mặt tích cực, tiêu cực của truyền thông cá nhân trong thời đại Internet.
Hoàng Thị Hải Yến vào năm 2012 với đề tài: “Irao đổi thông tin trên mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2011 - thực trạng và giải pháp (khảo sat mang Facebook, Zingme va Go. Dé tai đã làm rõ những vấn đề ly thuyết chung về mạng xã hội, nghiên cứu thực trạng trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên mạng xã hội từ năm 2010 — 2011 qua khảo sát thông tín và người dùng ở 3 trang mạng xã hội Facebook, Zingme và Go. Ngoài ra còn một số các nghiên cứu khác về việc sử dụng ngôn ngữ trên mạng xã hội, ảnh hưởng của mạng xã hội đến việc kết bạn, học tập và giải trí của sinh viên: Tác giả Lê Thu Quỳnh năm 2014 đề tài “Trào lưu mạng xã hội tại Việt Nam” (Khảo sát qua 3 mạng xã hội tiêu biểu hiện nay ở Việt Nam: Vietspace, Cyworld Việt Nam và Yahoo! 360); Ngô Lan Hương năm 2013 với đề tài: “Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hoá - giải trí”;. Còn một số các nghiên cứu khác về việc sử đụng ngôn ngữ trên mạng xã hội, ảnh hưởng của mạng xã hội đến việc kết bạn, học tập và giải trí của sinh viên: Ngô Lan Hương năm 2013 với đề tài: “Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hoá - giải trí”; Nguyễn Minh Hạnh năm 2013, với đề tài “Báo mạng điện tử với việc khai thác và sử dụng thông tin trên diễn đàn, mạng xã hội”:.
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook Với nền tảng Web 2.0 và sự tiện lợi trong thành lập các nhóm, chia sẻ và tiếp nhận thông tin, các trang mạng xã hội đã và đang được sử dụng như một công cụ giáo dục hiệu quả. Thêm vào đó, khi việc trẻ em, thanh, thiếu niên sử dụng mạng xã hội rộng rãi như hiện nay, nhiệm vụ đặt ra với hoạt động giáo đục cũng phải tranh thủ các tài nguyên không lỗ mà mạng xã hội đem đến. Một số công trình đáng chú y vé van dé nay la: Dé tai “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mã số KX03.TS Nguyễn Hỏi Loan chủ trì cũng đã chú ý đến vai trò và những ảnh hưởng của mạng xã hội đối với việc phát triển vốn xã hội của những cán bộ, người lao động trẻ tuổi trong việc học tập, tìm 12 kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến; Nguyễn Thị Cẩm Nhung năm 2011 với đề tài “Tác động của mạng xã hội đối với báo điện tử ở nước ta hiện nay”; Dương Nam Hoàng năm 2013 với đề tài “Tác động của mạng xã hội đến việc xử lý thông tin của báo điện tử Việt Nam hiện nay”; bài viét “Three Ways Social Networking Leads To Better Business/Ba cách sử đụng mạng xã hội để kinh đoanh tốt hơn” của Scott Hebner vào năm 2014; bai viét “The Use of Alternative Social Networking Sites in Higher Educational Settings: A Case Study of the E-Learning Benefits of Ning in Education/Sử dụng mạng xã hội trong giáo dục đại học: Một trường hợp về lợi ích của E Leaning” cua Kevin P. Holcomb va Bethany V.
Smith; bai viét “Social Network Theory and Educational Change/Ly thuyét mạng xã hội và sự biến đôi của giáo dục” của Choi vao nam 2010). Một số nhận xét 1. Kết quả của các nghiên cứu đã công bố Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu trên đã làm rõ được một số nội dung. khẳng định sự gia tăng và phát triển không ngừng của các trang mạng xã hội.
Hiện nay thế giới có hàng trăm mạng xã hội khac nhau nhu Facebook, Youtube, Twitter, MySpace. Mỗi mạng xã hội có một sự thành công nhất định dựa trên sự phù hợp với những yếu tổ về địa lý, văn hóa., chứng minh được mức độ sử dụng mạng xã hội ngày càng phô biến. Rất nhiều người đã biết cách sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quá. Họ sử đụng mạng xã hội là nơi để cung cấp thêm cho mình nguồn trị thức, nâng cao giá trị bản thân, là nơi để gắn kết cộng đồng, là nơi để sẻ chia những bắt hạnh, niềm vui của những người có cùng trái tim biết thông cảm và giúp đỡ những người có hoàn cảnh đáng thương, cần sự trợ giúp của xã hội.
Phân tích được một số tác động của mạng xã hội đến đời sống xã hội. Sự phát tán thông tin từ mạng xã hội rất nhanh và đễ đàng, tạo môi trường để những kẻ xấu lợi dụng, gây nguy hại đến tư tưởng, tỉnh thần của người đùng mạng xã hội. Những tác hại tiêu cực từ internet, đã phần nào làm hạn chế các giá trị đạo đức, văn hóa nhân văn của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay. Từ những lý đo trên có thể thấy sự ra đời và phát triển của mạng xã hội đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống con mạng xã hội đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống con người, đời sống xã hội.
Việc phân tích, khảo sát và phân tích thực trạng của mạng xã hội ở Việt Nam và đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến mạng xã hội ở Việt Nam trên các lĩnh vực sẽ là tiền để quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của mạng xã hội nói chung và mạng xã hội Facebook nói riêng đối với các đôi tượng cụ thê trong đời sống xã hội, cụ thể trong để tài này là sinh viên. 13 Cũng từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy, đù đã có nhiều đề tài, công bồ khoa học về mạng xã hội, ảnh hưởng của mạng xã hội tới đời sống con người nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhưng vấn đề phân tích ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook tới sinh viên (cụ thé là trong việc hệ thống và đời sống sinh viên) vẫn chưa được đề tài nào đề cập trực tiếp, phân tích chuyên sâu và do đó cần được tiếp tục làm rõ. Đã có một số nghiên cứu nổi bật về vị trí, vai trò của mạng xã hội đối với thanh niên hoặc giới trẻ hiện nay, nhưng việc bàn luận chuyên sâu về đối tượng sinh viên (một bộ phận đặc thù của thanh niên, giới trẻ) vẫn là một đề tài mới. Xác định được khoảng trống nghiên cứu này là tiền đề quan trọng để triển khai những nội đung tiếp theo của luận án.
Một số khái niệm liên quan tới vấn đề nghiên cứu 2. Khái niệm “sinh viên”, “học tập” và “đời sống” Sinh viên là một bộ phận đặc thù trong cộng đồng thanh niên của xã hội. Có thế hiểu ngắn gọn, sinh viên là những người đang theo học bậc đại học một cách chính thức tại các cơ sở giáo dục đại học, nghĩa là “những cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”. Nhìn chung, học tập là quá trình nâng cao hiểu biết của cá nhân, hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động nâng cao hiểu biết của sinh viên về các lĩnh vực chuyên môn mà sinh viên theo học tại cơ sở giáo dục đại học.
Ngoài việc học tập, đời sống của sinh viên cũng rất phong phú và đa dạng. Có thể hiểu, đời sống của một cá nhân bao gồm tổng thế những gì diễn ra trong cuộc sống của họ, với sinh viên, chúng tôi xác định một số phương diện chính trong đời sống của họ như sau: quan hệ xã hội, trọng tâm là quan hệ gia đình và quan hệ bạn bẻ; hoạt động ngoại khóa; việc làm. Khái niệm “ảnh hưởng” và “mạng xã hội” Về khái niệm “ảnh hưởng”, có thể hiểu, ảnh hưởng là “sự tác động (của tự nhiên — xã hội) đề lại kết quả trên các sự vật, hiện tượng hay con người”. Với cách hiểu về ảnh hưởng như vậy, có nhận định, ảnh hưởng của mạng xã hội là những tác động do mạng xã hội tạo ra và để lại kết quả nhất định (tích cực/tiêu cực) lên một đối tượng nào đó.
Ảnh hưởng của mạng xã hội đến học tập và đời sống của sinh viên là những tác động của mạng xã hội gây nên sự biến đổi trong học tập và đời sống 14 của sinh viên. Trên cơ sở tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau, có thể định nghĩa mạng xã hội là “dịch vụ kết nối các thực thé truyén thông trên internet với nhau thành những cụm bạn nhỏ hơn theo sự liên kết tự nguyện không phân biệt thời gian, không gian”. Khái quát về mạng xã hội Facebook Facebook là website mạng xã hội ảo cho phép người dùng truy cập miễn phí được Mark Zuckerberg và các cộng sự của mình sáng lập vào năm 2004. Người dùng mạng xã hội này có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo các tiêu chí như quốc gia, thành phố, nơi làm việc, trường đại học,.
để liên kết với người khác. Khá năng truyền tai và lưu trữ dữ liệu tuyệt vời của Facebook cho phép việc truyễn tải và lưu trữ dữ liệu với độ bao phủ dung lượng đa dạng. Facebook cho phép người dùng lưu trữ thông tin và sắp xếp có hệ thống theo thời gian sử dụng. Nhờ đó, người dùng có thể tìm kiếm lại các đữ liệu đã từng đăng tải hoặc tương tác trên Faecbook.
NGUON GOC Facebook duge sang lap boi Mark Zuckerberg - một sinh viên học khoa máy tính trường Đại học Harvard. Vào năm 2003, khi đang là sinh viên năm 2, Mark Zuckerberg da viét Facemash (tién thân của Facebook) - trang web này yêu cầu người đùng bình chọn ai là người "hot" (nóng bỏng) nhất bằng cách sử đụng 2 hình ghép kế bên nhau. Đề có thé lay được các thông tin hình ánh sử đụng dé so sanh, Mark Zuckerberg da tấn công vào hệ thông mạng của trường để lấy những hình ảnh của các sinh viên.