CHƯƠNG 1. Không gian tương tác 1. Không gian Đi tìm câu trả lời thống nhất ch o câ u hỏ i “N ên đị nh ng hĩ a kh ôn g gi an nh ư th é nao?” có lẽ kh ôn g phả i là mộ t ch uy ện dé dàn g. Nh à ngh iên cứ u Ng uy ễn Vă n Sửu đã lập luậ n ran g: tài liệu ngh iên cứu kho a học xã hội và nhâ n văn trá nh đưa ra một khái ni ệm ch un g du y nhấ t cho kh ôn g gia n.
Và do vậy , nội hà m củ a khá i niệ m khô ng gia n sẽ phụ thu ộc vào van đề ngh iên cứu , hướ ng ngh iên cứu của tác giả [25]. Trả lời câu hỏi “Không gian là gì?”, Lefèbrve cho rang “đó là câu hỏi khám phá hoặc phát triển một sự thống nhất các lý thuyết của các lĩnh vực riêng biệt. Những lĩnh vực nào?. Trước hết, vật ly, tự nhiên và vũ trụ, sau đó là trí tuệ (bao gom trừu tượng hoá hình thức va logic)- cuối cùng là xã hội.
Nói cách khác, cuộc tìm kiếm này tập trung vào không gian tri thức học logic - không gian của thực tiên xã hội — mà trong đó có các hiện tượng có thể ý thức, không loại trừ hình ảnh, kế hoạch, dự án, biểu tượng hay những điều không tưởng. ” Về không gian xã hội, Lefébrve đề xuất mô hình 3 chiều: - Thực tiễn không gian/ không gian có thé nhận thấy: đó là hoạt động sản xuất và tái sản xuất của quan hệ không gian giữa các đối tượng và sản phẩm. Trong xã hội tư bản hiện đại, thực tiễn không gian thể hiện một mối quan hệ gắn kết giữa thực tế hàng ngày và thực tế đô thị. Thực tế hàng ngày là thói quen hàng ngày và thực tế đô thị là đường phố, hệ thống mạng lưới nối kết các địa diém dành cho công việc, cho giải trí va cho cuộc sông riêng tu.
- Những hình dung của không gian/ không gian khái niệm: liên quan đến các mối quan hệ sản xuất va trật tự ma các quan hệ nay quy định — kiến thức, tín hiệu, quy tắc. Đây là không gian khái niệm hoá của các nhà khoa học, quy hoạch, đô thị, kỹ trị, hoạch định. Lý thuyết của các chuyên gia là hướng tới không gian giá trị hoá, định lượng và quản lý, do đó hỗ trợ và hợp pháp hoá phương thức quản lý nhà nước. - Khôn g gia n thể hiệ n: kh ôn g gia n nh ư sốn g độ ng trự c tiế p thô ng qu a hìn h ản h và các biể u tư ợn g liê n kết và vì vậy , kh ôn g gia n của ng ườ i dâ n và ng ườ i sử dung cũng như của các nghệ sĩ, và có lẽ của các nha triết học và nhà văn, những người mô tả và mong muốn làm được nhiều việc hơn là chỉ mô tả.
Đây là khô ng gia n kin h ngh iệm thụ độn g, mà trí tưở ng tượ ng tìm các h tha y đổi hay chiếm dụng. Không gian thé hiện phủ lên không gian vật lý, tạo năng lực sử dụng biểu tượng của các đối tượng. Các câu slogan, biểu ngữ hay dấu hiệu vẽ lên tường của sự phản kháng là những cốt liệu thể hiện. [20] Cũng liên quan đến việc phân loại không gian, Matthews cho rằng khái niệm không gian, sự phân loại không gian là vô cùng đa dạng, và theo ông, có 3 loại không gian: - Không gian thứ nhất (không gian vật thé/ physical space): được sử dụng dé nhận dạng các sự vật cụ thể có thể kẻ vẽ và được xã hội nhận thức là các “thực tiễn địa lý” (landscape/phong cảnh) - Không gian thứ hai (không gian tưởng tượng — imagined space): không gian trong tưởng tượng - Không gian thứ ba: không gian sống/ lived space [25] Pierre Bourdieu thì cho rang không gian là một tập hợp các vi trí cùng tôn tại và phân biệt, cái ở bên ngoài cá nhân và được định vi trong môi quan hệ với vat thê/ cá thê: quan hệ gân xa lân cận cũng như quan hệ về vi trí như trên, dưới, ở giữa.
Chu Xuân Diên trong một chuyên luận về con người và không gian thì đưa ra một quan điểm “không gian không chỉ là “hình thức tôn tại khách quan của vật chất” với tư cách là cái tự nhiên (le naturel) mà còn là “không gian người ” (espace humain) với tw cách là cai văn hoá (le cuturel), tức với tư cách là thành tựu của những sáng tạo văn hoá của con người. [1, 4] Từ các cách hiểu trên, tác giả tổ ng hợ p và đư a ra mộ t đị nh ng hĩ a về kh ôn g gi an làm cơ sở lý luận của nghiên cứu: không gian vừa là tập hợp các vi trí phân biệt và cùn g tồn tại trên thự c tiễn địa lý tro ng tư các h “ph ysi cal spa ce” vừa là biể u hiện của vă n ho á co n ngư ời hiệ n diệ n qua các hìn h ản h và biê u tư ợn g liê n kết. Không gian tương tác Theo Wik ipe dia , sự tươ ng tác đượ c địn h ngh ĩa là một loạ i hàn h độn g xảy ra giữ a hai hay nhi ều vật thé (đối tượ ng) có tác độn g lẫn nha u [26]. Còn tươ ng tác xã hội, từ quan điểm của xã hội học, có thé được coi là quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác trong đó, hành động xã hội là cơ sở, tiền đề của tương tác xã hội (hành động xã hội là hành động có mục đích, có ý nghĩa của cá nhân trên co sở định hướng tới hành vi của người khác và có tính toán cân nhắc tới phản ứng đáp lại của người đó [21, 84]).
Kết quả của tương tác xã hội là hình thành nên quan hệ xã hội. [2] Có thể hình dung mối quan hệ giữa tương tác xã hội với các yếu tố xung quanh nó trong một hệ thông xã hội vi mô theo sơ d6 sau: Hành vi -> hành động -> hành vi xã hội -> hành động xã hội -> tiếp xúc xã hội -> tương tác xã hội -> tương tác xã hội lặp lại -> tương tác xã hội phố biến > tương tác xã hội đã được điều chỉnh -> quan hệ xã hội -> xã hội [21] Một cách hiểu đơn giản, không gian tương tác là nơi xảy ra sự tương tác. Trong khoá luận này, không gian tương tác tức là nơi diễn ra tương tác xã hội như đã đề cập ở trên. Không gian tương tác của sinh viên trong trường đại học Không gian tương tác của sinh viên trong trường đại học là nơi diễn ra các tương tác của sinh viên, có những tính chất đặc trưng cho một nhóm đối tượng riêng biệt.
Cụ thể, để hình dung rõ hơn, tác giả phân chia các thành tố của không gian này như sau: Không gian vật lý: trong khuôn viên của một trường đại học, không gian vật lý là cái dé thấy nhất, bao chứa các nhân tố tổng hợp và tự nhiên trong đó. Cơ sở 10 vật chất, khu mặt bằng, cấu trúc và các thành tố bô sung mang tính tô chức — những yếu tố xác định khuôn viên trường (theo quan điểm của Strange & Banning — [31, 2] được coi là các biến số của không gian vật lý. Nh óm này bao gồ m các khô ng gia n ton tại tro ng khu ôn viê n trư ờng dai hoc như sân trường, giảng đường, thư viện, canteen, kí túc xá, sân thê thao, vườn trường, các câu lạc bộ và các toà nhà khác (lounge,. Đặc điểm dé thấy của không gian vật lý là có thể dé dàng nhận diện với những ranh giới địa lý, đặc điểm hình thức bên ngoài, kiến trúc hay các hoạt động thực (real space).
“Không gian ảo ” (virtual space): ở đây chỉ mạng xã hội trực tuyến. Theo nghiên cứu về “mạng xã hội với sinh viên ” của nhóm tác giả GS.Trần Hữu Luyến - GS.Trần Thị Minh Đức - TS.Bùi Thị Hồng Thái, khái niệm mạng xã hội, mạng xã hội trên internet, mang xã hội trực tuyến, mạng xã hội ảo mới được hình thành trong thập niên cuối của thé ki XX, bat đầu bằng sự ra đời của Classmates. [8, 29-30] Cụ thể, có thể định nghĩa như sau: “Một cách cơ bản nhất, MXH (mạng xã hội) được cau thành từ hai bộ phận là con người và những moi liên hệ giữa họ. Còn dịch vụ mạng xã hội hay mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ xây dựng và phản ánh mạng xã hội hay mối quan hệ giữa người với người, dựa trên nên tảng chung về sở thích, môi trường hay lĩnh vực hoạt động, từ đó cho phép người sử dụng chia sẻ các nội dung do mình tạo ra để thiết lập nên cộng đông của chính minh.” [8, 31] Cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng cách. nêu ra các thành tô như vậy sẽ phân nào đưa ra cách nhìn vừa có tính cụ thê vừa có tính hệ thống về không gian tương tác của sinh viên trong trường đại học. 11 Đồng thời cách chi a nà y cũ ng tạo điề u kiệ n dễ dà ng hơ n khi xác địn h đối tư ợn g nghiên cứu trọng tâm. Con người xã hội Khá i niệ m con ngư ời xã hội đượ c sử dụn g tro ng kho á luậ n này nhằ m chỉ con người dưới tác động của xã hội hay là con người xã hội hoá theo lí thuyết của xã hội học.
“Xã hội hoá là một quá trình thông qua đó con người hình thành nên tính cách cua mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm. Nói cách khác, chính là con người sinh vật học hỏi dé trở thành con người xã hội ”. Nhờ có quá trình xã hội hoá, con người gan như hiểu hết được ý nghĩa của các hành vi trong những tiếp xúc xã hội thông thường vì con người đã học được các quy luật mà người khác cũng phải tuân thủ. Xã hội hoá là quá trình tiếp nhận nền văn hoá của xã hội nhờ đó chúng ta học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội.