CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐỂ ỨNG TUYỂN VÀO NGÀNH NGÂN HÀNG 1. Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm về ngân hàng Ngân hàng được ví như là mạch máu của nền kinh tế vì nó có vai trò rất to lớn trong việc lưu chuyển tiền tệ. Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), ngân hàng thực hiện kinh doanh và cung cấp thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như cho vay, nhận tiền gửi, hỗ trợ thanh toán qua tài khoản.
Và trong các loại hình ngân hàng thì ngân hàng thương mại là loại hình phổ biến và được quan tâm nhất. Theo Saunders và Walters (1994), ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính giải quyết các khoản cho vay và tiền gửi, và có quyền tiếp cận tài chính thị trường. Họ thường huy động vốn chủ yếu thông qua tiền gửi và sử dụng tiền để cho vay (thế chấp, cho vay tiêu dùng và thương mại) và đầu tư vào chứng khoán nợ. Khái niệm và lịch sử phát triển của các phương tiện truyền thông mạng xã hội Khái niệm Theo Kaplan và Haenlein (2012) định nghĩa phương tiện truyền thông xã hội là các ứng dụng dựa trên mạng Internet, dựa trên nền tảng trực tuyến và công nghệ của Web 2.
Nó cho phép người dùng tạo ra và trao đổi nội dung không giới hạn về không gian và thời gian. Phát triển từ định nghĩa này, Carr, Hayes (2015) cùng Özdemir, Erdem (2016) cho rằng phương tiện truyền thông mạng xã hội còn giúp những người tham gia có thể định dạng được nhằm tạo thông tin cá nhân trên nền tảng này. Phương tiện truyền thông xã hội, theo Kane, Alavi, Labianca và Borgatti (2012), là những chương trình cung cấp cho người dùng quyền riêng tư và các tùy chọn tìm kiếm. Họ cũng có thể đưa ra danh sách những người khác mà họ chia sẻ và giao tiếp.
Aral, Dellarocas và Godes (2013), cũng như Landers và Schmidt (2016), định nghĩa phương tiện truyền thông xã hội là một trong những công nghệ xây dựng cộng đồng và cho phép người dùng tương tác giao lưu với những người khác bất kể khoảng 7 cách hay thời gian. Để tăng năng suất công việc, họ sử dụng nhiều nền tảng khác nhau để chia sẻ tài liệu, tương tác và hợp tác trong doanh nghiệp. Phương tiện truyền thông xã hội, theo Zahoor và Qureshi (2017), là một công cụ web được sử dụng để giao tiếp với khán giả nói chung. Người dùng có thể kết nối với nhau trong và ngoài công ty thông qua mạng xã hội.
Nó bao gồm một hệ thống quản lý tri thức toàn diện cũng như các công cụ quản lý dễ dàng và thích ứng. Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu “phương tiện truyền thông xã hội” chính là một hình thức để truyền thông nhờ nền tảng dịch vụ Internet. Các công cụ này cho phép mọi người có thể tương tác thông qua việc chia sẻ thông tin, trao đổi ý kiến, gửi hình ảnh, video… một cách nhanh chóng và tiện lợi. Rõ ràng là mạng xã hội được hình thành dựa trên hai yếu tố chính: Internet và sự tham gia của công chúng.
Lịch sử phát triển Vào những năm 1840, mạng xã hội lần đầu tiên phát triển ở Mỹ, trùng với sự phát minh ra điện báo. Hệ thống PLATO được tạo ra tại Đại học Illinois và ra mắt lần đầu tiên vào năm 1960. (Control Data Corporation sau đó đã tiếp thị công nghệ này.) PLATO giới thiệu lại các loại mạng xã hội sớm nhất, bao gồm các phát minh có từ năm 1973. Talk, nhắn tin nhanh và Talkomatic là các chương trình diễn đàn nhắn tin PLATO (đây là phòng trò chuyện trực tuyến).
Tiền thân của hệ thống bảng tin điện tử (BBS - Bộ nhớ cộng đồng) đã ra đời vào năm 1973. Hiện tượng BBS đã xuất hiện ở diễn đàn tin nhắn từ trong những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Sự ra đời của World Wide Web trên Internet vào giữa thế kỷ 20 đã biến bảng tin web thành các diễn đàn Internet vì chúng ít tốn kém hơn và có thể chứa nhiều người dùng hơn. Với sự trợ giúp của công nghệ bán dẫn và cảm biến hình ảnh kỹ thuật số, sự phát triển của phương tiện truyền thông xã hội đã được đẩy mạnh.
Các tiện ích kỹ thuật số như máy ảnh và điện thoại sẽ trở nên sẵn có hơn nhờ công nghệ này và kết quả là phương tiện truyền thông xã hội cũng phát triển theo. 8 Khả năng nén dữ liệu phương tiện kỹ thuật số là một trong những yếu tố quan trọng nhất của Social Media. Do nhu cầu về bộ nhớ và băng thông cao, biến đổi cosin rời rạc (DCT) là thuật toán nén dữ liệu kỹ thuật số thiết yếu nhất. Nasir Ahmed là người đầu tiên đề xuất phương pháp này vào năm 1972.
Các tiêu chuẩn mã hóa video H.26x và MPEG, cũng như tiêu chuẩn nén hình ảnh JPEG (được giới thiệu vào năm 1992), nằm trong số các tiêu chuẩn nén của DCT. JPEG là định dạng hình ảnh kỹ thuật số được sử dụng nhiều nhất cho mạng xã hội, trong khi MPEG là định dạng video kỹ thuật số phổ biến nhất. SixDegrees được coi là trang mạng xã hội đầu tiên vì nó cho phép người dùng đã đăng ký tạo hồ sơ, danh sách bạn bè và các chi nhánh của trường. Các trang mạng xã hội khác như LinkedIn (tháng 5 năm 2003), MySpace (tháng 8 năm 2003), Facebook (tháng 2 năm 2004), YouTube (tháng 2 năm 2005), Bebo (tháng 7 năm 2005), dịch vụ dựa trên văn bản - Twitter (tháng 7 năm 2006), Tumblr (tháng 2 2007) và tiếp theo là Google+ (tháng 7 năm 2011).
Khái niệm về tuyển dụng Theo Edwin B. Flippo (2015), “Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm các ứng viên cho việc làm và kích thích họ nộp đơn xin việc trong tổ chức”. Patil (2012) định nghĩa tuyển dụng là hoạt động liên kết giữa nhà tuyển dụng và người tìm việc. Đó là một quá trình tìm kiếm và thu hút những ứng viên có năng lực vào việc làm.
Quá trình này bắt đầu khi người mới tuyển dụng được tìm kiếm và kết thúc khi đơn đăng ký của họ được gửi Tuyển dụng qua kênh các phương tiện truyền thông mạng xã hội cho phép các nhà tuyển dụng tìm kiếm nhân viên cho một tổ chức một cách hiệu quả. Việc sử dụng công nghệ internet để thu hút và tìm nguồn ứng viên cũng như hỗ trợ quá trình tuyển dụng được gọi là tuyển dụng trực tuyến. Điều này thường có nghĩa là việc sử dụng website riêng của công ty hay của bên thứ ba hoặc bảng việc làm, cơ sở dữ liệu Curriculum Vitae (CV), hoặc các nền tảng khác để lấp đầy các vị trí tuyển dụng. Nhiều 9 tổ chức lớn dùng các phương tiện này nhằm tuyển dụng và quảng cáo các vị trí họ cần thông qua các kênh trên toàn thế giới.
Người tìm việc gửi đơn xin việc hoặc sơ yếu lý lịch, tức là Sơ yếu lý lịch qua email bằng Internet. Xu hướng tuyển dụng thông qua các phương tiện truyền thông mạng xã hội Các phương tiện truyền thông mạng xã hội đã đem lại cho các ứng viên và các nhà tuyển dụng một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá. Những trang web giúp các chuyên gia có thể gây dựng thêm nhiều mối quan hệ thay vì sử dụng thời gian và chịu chi phí khi tham dự các sự kiện xã hội ngoại tuyến. Một cuộc thăm dò với hơn 4000 khách truy cập vào Beyond.com (một mạng lưới các cộng đồng nghề nghiệp thích hợp) cho thấy rằng, trong số 30% người được hỏi là thành viên của SNS, 49,3% và 20,3% chỉ ra rằng họ sử dụng các trang này chủ yếu nhằm đạt được cơ hội việc làm, cũng như mạng chuyên nghiệp tương ứng (Beyond.
Sự phát triển lan tỏa của các trang mạng xã hội đem đến nguồn cung cấp ứng viên cho các nhà tuyển dụng (NACE, 2008). Trong cuộc khảo sát Triển vọng việc làm 2008 của Hiệp hội các trường đại học và nhà tuyển dụng quốc gia (NACE), 17% nhà tuyển dụng phản hồi chỉ ra rằng họ sẽ sử dụng các trang mạng xã hội như một cách để tuyển dụng. Trong một cuộc khảo sát năm 2007 với các chuyên gia tuyển dụng về những tiến bộ trong tuyển dụng điện tử của SHRM (Hiệp hội Quản lý Nguồn nhân lực), 19% người được hỏi cho biết tổ chức của họ đã sử dụng các trang mạng xã hội để xem xét thông tin được đăng bởi các ứng viên tuyển dụng. Trong số 19% này, khoảng 21% cho biết tổ chức của họ đã loại bỏ một ứng viên xin việc trong vòng 12 tháng trước cuộc khảo sát trên cơ sở thông tin được tìm thấy từ một trang mạng xã hội (SHRM, 2007).
Nhiều nhà tuyển dụng trước đây đã sử dụng SNS để kiểm tra hồ sơ của các nhân viên tiềm năng hiện đang lên kế hoạch quảng cáo các vị trí tuyển dụng hoặc kết nối với các ứng viên tiềm năng trên các trang web này (NACE, 2008). Mặc dù SNS ngày càng phổ biến trong việc tìm kiếm việc làm và tuyển dụng nhân viên, nghiên cứu trong bối cảnh này chỉ giới hạn trong việc đánh giá mức độ sử dụng các trang web này của người tìm việc (Beyond., 2008) và các chuyên gia tuyển dụng (NACE, 2008, SHRM, 2007) Với mục đích tìm hiểu sâu hơn tại sao lại có xu hướng ứng tuyển thông qua các phương tiện truyền thông thay vì các hình thức truyền thông thì nhóm đã thực hiện so 10 sánh giữa 2 hình thức này để thấy được sự vượt trội của tuyển dụng khi ứng dụng các phương tiện truyền thông mạng xã hội: Bảng 1. So sánh giữa hai hình thức tuyển dụng truyền thống và tuyển dụng thông qua các phương tiện truyền thông mạng xã hội Tiêu chí Tuyển dụng truyền Tuyển dụng qua các phương tiện truyền thống thông mạng xã hội Nơi xuất hiện Bị giới hạn và được Có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới, nơi mà phân theo từng khu có các ứng viên, bao gồm cả các mạng xã vực hội. Chi phí tuyển Chi phí quảng cáo cho Chi phí tuyển dụng được tối ưu khi sử dụng dụng tuyển dụng tốn kém, công nghệ nên có thể tốn rất ít hoặc miễn điển hình là các vị trí phí cấp cao trong công ty.
Chu kỳ sống Diễn ra dài vì các khâu Diễn ra nhanh chóng do các bước tuyển thường cần tốn nhiều dụng được tối ưu vì do người ứng tuyển có nguồn lực để thực thể thực hiện ở bất cứ chỗ nào mà không hiện, đặc biệt là thời cần đến tận nơi.