Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về tác động của chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với việc phát triển ngành công nghiệp ô tô của một quốc gia Chương 2. Thực trạng tác động của chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu đến sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam Chương 3. Định hướng chiến lược và giải pháp phát huy tác động tích cực hạn chế tiêu cực của chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam đến 2020 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ CỦA MỘT QUỐC GIA 1.
Sự cần thiết của ngành công nghiệp ô tô và sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô 1.Ngành công nghiệp ô tô Công nghiệp ô tô là ngành sản xuất, chế tạo, lắp ráp để tạo ra sản phẩm là xe ô tô hoàn chỉnh. Ngành công nghiệp ô tô bao gồm cả: công nghiệp phụ trợ: sản xuất linh phụ kiện, chi tiết máy…phục vụ cho ô tô; nghiên cứu cải tiến, chế tạo, phát minh ra kiểu dáng các loại xe mới; lắp ráp xe hơi; các dịch vụ chăm sóc;…công nghiệp ô tô bị thống trị bởi một số lượng khá nhỏ các nhà sản xuất, những nhà sản xuất lớn nhất (theo con số xe sản xuất ra) hiện là General Motors, Toyota và Ford Motor Company. Ngành công nghiệp ô tô thiết kế, phát triển, sản xuất, tiếp thị và bán tất cả các loại xe cộ. Trong năm 2007, hơn 73 triệu ô tô các loại gồm xe du lịch và xe thương mại được sản xuất ra trên toàn thế giới.
Trong tổng số 71,9 triệu ô tô mới được bán ra trên toàn thế giới có 22,9 triệu ở Châu Âu, 21,4 triệu ở Châu Á Thái Bình Dương, 19,4 triệu ở Mỹ và Canada, 4,4 triệu ở Châu Mỹ La tinh, 2,4 triệu ở Trung Đông và 1,4 triệu ở Châu Phi. Các thị trường ở Bắc Mỹ và Nhật Bản đã chững lại, trong khi đó, thị trường ở Nam Mỹ và Châu Á phát triển rất mạnh. Trong các thị trường chính, Nga, Braxin, Ấn Độ và Trung Quốc cho thấy sự phát triển nhanh nhất. Một số tên hiệu xe hơi nổi tiếng: Volkswagen, Mercedes, Opel, BMW, Audi, Ford, Renault, Toyota, Skoda, Peugeot, Citroen, Fiat, Mazda, Seat, Nissan, Hyundai, Honda, Kia, Volvo, Mitsubishi, Suzuki, Smart, Mini (BMW), Chevrolet, Porsche, Alfa Romeo, Daihatsu, Chrysler, Subaru, Land Rover, Dacia, Jeep, Saab, Lexus, Jaguar, Ssangyong, Lancia, GM, Sonstige, Gesamt.
Công nghiệp ôtô là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đây cũng là ngành có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhiều quốc gia. 8 Nhiều quốc gia trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chọn ngành công nghiệp ô tô làm ngành chiến lược để đầu tư, phát triển. Xét trên phạm vi toàn cầu ngành công nghiệp ô tô luôn được xem là một động cơ quan trọng cho tăng trưởng, tạo thu nhập.
Quá trình phát triển có sự gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia. Vai trò của ngành công nghiệp ô tô đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, công nghiệp ô tô đã và đang là động lực tăng trưởng cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước phát triển và đang phát triển. Hầu hết chính phủ tại các nước công nghiệp mới đều dành ưu tiên phát triển ngành công nghiệp ô tô để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô có đóng góp rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Ở Mỹ, ngành công nghiệp ô tô hàng năm tạo ra khoảng từ 3% đến 3,5% GDP của nước này. Ở Brazil ngành công nghiệp ô tô cũng có một vai trò quan trọng. Ước tính giá trị sản xuất của ngành công nghiệp ô tô hàng năm ở Brazil (đứng thứ 6 trên thế giới) chiếm khoảng 5% GDP với 50 cơ sở sản xuất và sản lượng đạt khoảng 4,4 triệu xe mỗi năm. Tương tự ở Trung Quốc, ngành công nghiệp ở nước này cũng đã có sự phát triển nhanh vượt bậc và đến năm 2010, Trung quốc đã vượt Mỹ để trở thành quốc gia có thị trường ô tô đứng đầu thế giới với sản lượng trên 12 triệu chiếc và dự kiến sẽ tiếp tục được mở rộng trong 10 năm tới.
Trung Quốc cũng xác định ngành công nghiệp ô tô là ngành chiến lược trong Kế hoạch 10 năm tới. Thứ hai, ngành công nghiệp ô tô là một ngành sản xuất mà hoạt động sản xuất của ngành này có tác động lan tỏa cao sang nhiều ngành kinh tế khác. Ước tính ngành công nghiệp ô tô ở Mỹ đã sử dụng một nguồn lực lao động lên đến 13 triệu việc làm, chiếm khoảng 10% tổng số lao động trong nền kinh tế. Tương tự, ở Brazil, hiện có khoảng 200 nghìn doanh nghiệp có sự kết gắn và mối quan hệ với ngành sản xuất ô tô.
Ước tính ngành này đã tạo việc làm cho khoảng 1,5 triệu người ở Brazil, cả trực tiếp và gián tiếp, trong đó số lao động gián tiếp là 150 nghìn người. 9 Thứ ba, do đặc trưng là sự phát triển của ngành luôn gắn liền với các thành tựu khoa học kỹ thuật, nên ngành công nghiệp ô tô có tác động thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, đặc biệt là các ngành tự động hóa, khoa học điện tử, công nghệ mới, hóa chất, cơ khí chế tạo, công nghiệp luyện kim, sản xuất sắt thép… từ đó thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực liên quan trong nền kinh tế cùng phát triển. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ô tô thế giới có vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa, thông qua việc quốc tế hóa, mở rộng sản xuất của các tập đoàn ô tô trên thế giới đã giúp cho nền kinh tế của nhiều nước đang phát triển có điều kiện hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu cũng như khu vực.
Thứ tư, ngành công nghiệp ô tô là ngành tiêu thụ nhiều sản phẩm của các ngành công nghiệp khác, như: kim loại, hóa chất, cơ khí, điện tử,… và tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động trong các ngành công nghiệp này. Điều này cho thấy, sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô sẽ thúc đẩy và lôi kéo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác (công nghiệp hỗ trợ).Sự cần thiết của ngành công nghiệp ô tô Từ khi ra đời cho đến nay ngành công nghiệp ô tô luôn chứng tỏ vai trò tối quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực: không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng của con người trong việc đi lại và luân chuyển hàng hoá mà còn đóng góp rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung. Công nghiệp ô tô đã và đang là động lực tăng trưởng cho nhiều quốc gia. Công nghiệp ô tô là một ngành có quy mô lớn mang lại thu nhập cao.
Tổng giá trị hàng hóa do ngành công nghiệp này tạo ra đã đạt tới những con số khổng lồ. Ngành công nghiệp ô tô được xem là một ngành sản xuất vật chất, cung cấp phương tiện đi lại và vận chuyển tối ưu nhằm đảm bảo mạch máu lưu thông, thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo thống kê, 82% khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường ô tô và 75% hành khách đi lại bằng phương tiện cơ động này. Như vậy, ở điểm này, ngành công nghiệp ô tô đã gián tiếp đóng góp vai trò không thể thiếu của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế của quốc gia và thế giới.
Ngoài ra, do đặc trưng gắn liền với thành tựu khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp ô tô có tác động thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển đặc biệt là các ngành tự động hóa, khoa học điện tử, công 10 nghệ mới, hóa chất, cơ khí chế tạo,… từ đó thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực liên quan cùng phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Bên cạnh đó, công nghiệp ô tô là khách hàng lớn nhất của nhiều ngành công nghiệp phụ cận như: kim loại, hóa chất, cơ khí, điện tử,… và tạo công ăn việc làm cho vô số lao động trong các ngành công nghiệp này.3 Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô trên thế giới Vào năm 1769, một kỹ sư người Pháp tên là Nicolas J Cugnot đã phát minh ra chiếc ô tô đầu tiên có thể chạy trên đường. Trên thực tế, sản phẩm này là một chiếc máy kéo ba bánh tự động sử dụng động cơ hơi nước được dùng trong quân đội. Tuy nhiên, hoạt động của chiếc ô tô ban đầu rất giới hạn, nhiều nhất nó chỉ có thể chạy được liên tục trong vòng mười lăm phút.
Ngoài ra, thiết kế của chiếc xe không phù hợp với việc di chuyển trên đường bởi vì động cơ hơi nước làm cho xe có kích thước rất lớn và nặng. Giữa năm 1832 và năm 1839, một người đàn ông Scotland tên là Robert Anderson đã phát minh ra một cỗ xe chạy bằng điện. Tuy nhiên, vào năm 1842, Thomas Davenport (Mỹ) và Robert Davidson (Scotland) là hai trong số những người đầu tiên phát minh ra xe ô tô có tính ứng dụng cao vì họ sử dụng pin không cần sạc. Cùng với sự phát triển của các tuyến đường giao thông, việc đi lại trở nên thuận tiện hơn và kết quả là những sản phẩm ô tô chạy bằng điện không còn là lựa chọn tốt nhất bởi vì nguồn năng lượng quá ngắn của những bộ pin nguồn không phù hợp cho các tuyến đường xa.
Ngành công nghiệp ô tô cuối cùng cũng đã đến tuổi trưởng thành với một số lượng lớn các sản phẩm ô tô được sản xuất bởi Henry Ford vào năm 1914. Điều này dẫn đến sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất ô tô, mà khởi đầu là dây chuyền lắp ráp từ nhà máy sản xuất ô tô của Henry Ford. Những phương pháp sản xuất mới của Ford biến những phát minh về ô tô trở nên phổ biến với nhiều người đặc biệt là giới nhà giàu. Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trước chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô đã có được những tính năng kỹ thuật cơ bản.